TUỔI TRẺ XUÂN THÀNH

TUỔI TRẺ XUÂN THÀNH Trang thông tin đại chúng

19/08/2026

🇻🇳 81 NĂM NGÀY CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VIẾT THƯ KÊU GỌI
TỔNG KHỞI NGHĨA
(18.8.1945-18.8.2026)
QPVN #7

19/08/2026
19/08/2026

Chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026): Sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta. Thắng lợi ấy đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm và lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị hàng thế kỷ ở nước ta, dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước do Nhân dân lao động làm chủ. Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công là dịp để chúng ta khắc sâu hơn nữa ý nghĩa lịch sử to lớn của những ngày mùa thu năm 1945; phát huy thành quả, kinh nghiệm trong 81 năm qua, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng.

Chớp thời cơ "ngàn năm có một”

Cuối năm 1944, đầu năm 1945, cục diện thế giới thay đổi nhanh chóng. Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc với ưu thế áp đảo nghiêng về phe Đồng minh. Tại châu Âu, Hồng quân Liên Xô phối hợp với quân đội các nước Anh, Mỹ, Pháp, Canađa… liên tiếp giành thắng lợi, giải phóng nhiều quốc gia và tiến vào Béclin. Ngày 9-5-1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh ở châu Âu kết thúc. Tại châu Á - Thái Bình Dương, quân đội phát xít Nhật rơi vào thế bị bao vây, uy hiếp nặng nề. Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông, giải phóng vùng Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Ngày 14-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai chính thức chấm dứt.

Tình hình ấy mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Trung ương Đảng nhận định: Đây là thời cơ “ngàn năm có một” để Nhân dân ta vùng lên giành lại độc lập. Trong khi quân Đồng minh chưa kịp vào Đông Dương làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, thực dân Pháp đã rắp tâm quay trở lại, tìm cách dựa vào Đồng minh, còn các thế lực khác cũng bắt đầu can thiệp; nếu không chớp lấy cơ hội này, vận hội dân tộc có thể bị bỏ lỡ.

Ngay từ ngày 9-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp khẩn, ra chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước rộng khắp. Ngày 12-3-1945, Trung ương ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, khẳng định: “Đây là thời cơ tốt để Nhân dân ta vùng lên giành độc lập”.

Tháng 4-1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân. Ngày 16-4, Tổng bộ Việt Minh chỉ đạo thành lập các Ủy ban dân tộc giải phóng từ Trung ương đến địa phương. Đầu tháng 5-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo toàn quốc. Ngày 4-6-1945, Khu Giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập. Từ giữa năm 1945, cao trào kháng Nhật cứu nước lan rộng, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần diễn ra mạnh mẽ tại nhiều địa phương trên cả nước.

Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ngay trong ngày đã ra Quân lệnh số 1, phát động tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.

Ngày 16-8-1945, Quốc dân đại hội họp tại Tân Trào thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, phê chuẩn Lệnh tổng khởi nghĩa, thống nhất Quốc kỳ nền đỏ sao vàng năm cánh, chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ Lâm thời cách mạng Việt Nam) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cùng thời điểm đó, Người gửi thư kêu gọi toàn dân, nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Từ ngày 14-8-1945, tại nhiều địa phương, các cấp bộ Đảng và Việt Minh đã chủ động phát động khởi nghĩa trước khi nhận được lệnh chính thức, căn cứ vào tình hình cụ thể và tinh thần Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi: từ các huyện, xã vùng đồng bằng Bắc Bộ đến các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa…

Chiều 16-8-1945, theo chỉ đạo của Ủy ban Khởi nghĩa, một đơn vị Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy xuất phát từ Tân Trào, tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên - mở màn cho chiến dịch quân sự hỗ trợ tổng khởi nghĩa. Cùng lúc, lực lượng vũ trang Chiến khu Trần Hưng Đạo phối hợp đánh chiếm các địa phương như: Hải Ninh, Quảng Yên, Kiến An. Ở miền Trung, lực lượng cách mạng tại Quảng Ngãi chiếm dinh tỉnh trưởng ngay trong đêm 16-8 - chính quyền tay sai sụp đổ không kịp trở tay.

Ngày 18-8-1945, các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam là những địa phương đầu tiên giành được chính quyền tại tỉnh lỵ - tạo khí thế bừng bừng khắp cả nước.

Tại Hà Nội, chiều 17-8-1945, hàng vạn quần chúng từ nội, ngoại thành tham gia mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn, rồi tuần hành qua các phố trung tâm, hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam độc lập!”. Ngày 18-8-1945, cờ đỏ sao vàng rực rỡ trên nhiều tuyến phố chính. Đỉnh cao là ngày 19-8-1945: cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra với khí thế áp đảo. Các đội tự vệ chiến đấu và quần chúng cách mạng chiếm phủ Khâm sai Bắc Bộ, Sở Cảnh sát, Sở Bưu điện, Trại Bảo an binh…; chính quyền Bảo Đại - Trần Trọng Kim tan rã. Đêm 19-8-1945, chúng ta hoàn toàn làm chủ Thủ đô.

Ở Huế, ngày 20-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh được thành lập. Từ ngày 21-8-1945, hàng loạt cuộc biểu tình thị uy diễn ra, tạo thế áp đảo. Ngày 23-8-1945, hàng vạn người tiến vào thành phố, chiếm các công sở trọng yếu và giành chính quyền trong hòa bình.

Tại Sài Gòn - Gia Định, Xứ ủy Nam Kỳ ấn định ngày khởi nghĩa là 25-8-1945. Sáng hôm đó, các đoàn công nhân, nông dân, thanh niên từ Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho đổ về trung tâm thành phố. Quần chúng chiếm lĩnh Sở Mật thám, Sở Cảnh sát, Bưu điện, nhà ga, nhà máy điện… chính quyền bù nhìn nhanh chóng sụp đổ, chính quyền cách mạng được thiết lập.

Thắng lợi vang dội tại ba đô thị lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đất liền đến hải đảo - phong trào khởi nghĩa dâng lên như vũ bão. Tại Côn Đảo - nơi từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian”, nơi giam giữ hàng ngàn chiến sĩ cách mạng kiên trung - khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng và cuộc Tổng khởi nghĩa đang lan rộng trong cả nước, tổ chức Đảng trong nhà tù đã nhanh chóng họp bàn, tổ chức lực lượng, lãnh đạo tù nhân nổi dậy. Tại Phú Quốc, với sự lãnh đạo của tổ chức Việt Minh, tù chính trị cùng quần chúng Nhân dân trên đảo vùng lên lật đổ chính quyền thân Nhật, thiết lập chính quyền cách mạng. Ở nhiều đảo khác như: Lý Sơn, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Hòn G*i, Vân Đồn…, phong trào khởi nghĩa hưởng ứng Tổng khởi nghĩa Tháng Tám cũng diễn ra mạnh mẽ, đồng thời với các địa phương trên đất liền, thể hiện tinh thần yêu nước sục sôi, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng độc lập của toàn dân tộc. Các tổ chức Việt Minh, lực lượng tự vệ và quần chúng yêu nước đã nhanh chóng phát động các cuộc mít tinh, biểu tình, tước vũ khí của lính bảo an, chiếm các công sở và tuyên bố chính quyền về tay Nhân dân.

Chỉ trong vòng 15 ngày, từ giữa đến cuối tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước. Ngày 30-8-1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố quyền độc lập, tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam trước thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - đánh dấu sự mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc: kỷ nguyên độc lập, tự do và làm chủ vận mệnh đất nước.

Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa thời cơ lịch sử thuận lợi với sự chuẩn bị công phu, bài bản và sự lãnh đạo sáng suốt, linh hoạt của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Trước hết, thắng lợi đó bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn và kịp thời của Đảng. Đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân mà Đảng xác định phù hợp với nguyện vọng của đại đa số Nhân dân. Đảng đã thể hiện tầm nhìn chiến lược và năng lực tổ chức thực tiễn xuất sắc khi chỉ đạo toàn dân nổi dậy đúng thời điểm, nhanh chóng giành chính quyền trong cả nước với tinh thần: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Thứ hai, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là thành quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, toàn diện về chính trị, tổ chức, tư tưởng và lực lượng vũ trang. Từ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, các cuộc vận động Dân chủ, Cao trào kháng Nhật cứu nước đến việc thành lập Mặt trận Việt Minh, tổ chức các đội vũ trang, xây dựng căn cứ địa, mở rộng lực lượng quần chúng… Đảng đã dày công chuẩn bị để sẵn sàng chớp lấy thời cơ. Việc chủ động phát động khởi nghĩa từng phần trước khi tổng khởi nghĩa cũng thể hiện sự nhạy bén và linh hoạt trong chỉ đạo cách mạng.

Thứ ba, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Nhân dân ta, dưới ngọn cờ đoàn kết của Mặt trận Việt Minh, đã nhất tề đứng dậy ở cả ba miền, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, từ đất liền đến hải đảo. Đây là biểu hiện sinh động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, yếu tố nội sinh mang tính quyết định đối với thắng lợi của cách mạng.

Thứ tư, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong bối cảnh quốc tế hết sức thuận lợi. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thất bại hoàn toàn của phát xít Đức và phát xít Nhật. Đảng ta đã đánh giá đúng thời cơ "ngàn năm có một" và phát động toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta. Thắng lợi ấy đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm và lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị hàng thế kỷ ở nước ta, dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước do Nhân dân lao động làm chủ.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc: Kỷ nguyên độc lập - tự do; kỷ nguyên Nhân dân lao động nắm chính quyền, làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh dân tộc; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta trở thành một đảng cầm quyền, chuẩn bị những điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi tiếp theo.

Cách mạng Tháng Tám không chỉ có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử Việt Nam mà còn mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc. Thắng lợi ấy đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa và các lực lượng bị áp bức trên thế giới đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Với thắng lợi đó, dân tộc Việt Nam không chỉ giành được độc lập mà còn khẳng định vị thế và con đường phát triển của mình trong dòng chảy của lịch sử thế giới hiện đại.

Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công là dịp để chúng ta khắc sâu hơn nữa ý nghĩa lịch sử to lớn của những ngày mùa thu năm 1945 - khi dân tộc ta vùng lên giành lấy quyền làm người, làm chủ đất nước. Đó cũng là lời nhắc nhở về trách nhiệm hôm nay: tiếp nối tinh thần bất khuất, khát vọng độc lập - tự do - hạnh phúc của cha ông, hun đúc bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, đổi mới mạnh mẽ và sáng tạo không ngừng, quyết tâm hiện thực hóa khát vọng dựng xây một nước Việt Nam phát triển toàn diện và bền vững trong kỷ nguyên mới.





19/08/2026
19/08/2026
17/08/2026

"Thông tin vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội"👇

17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế

Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.

Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.

Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.

Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.

Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực

Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.

Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.

Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.






17/08/2026

Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia

Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.

Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.

Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.

Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.

Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.

Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.

Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.

Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.

Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Nguồn: Báo QĐND
Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ







17/08/2026

Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”

Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là câu chuyện về một tuyến vận tải mới, mà còn đặt ra câu hỏi Việt Nam muốn phát triển như thế nào trong vài thập niên tới.
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (đơn vị tham gia rà soát Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án và các chương trình đường sắt cao tốc quốc tế), cho rằng Việt Nam cần trả lời câu hỏi mong muốn kết nối các đô thị lớn ra sao, mở ra những hành lang kinh tế mới như thế nào và hướng tới mô hình tăng trưởng hiệu quả, phát thải thấp hơn ra sao.

Tuy nhiên, các dự án quy mô lớn không thể thành công chỉ nhờ tham vọng. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế trong các dự án như Đường sắt cao tốc California (California High-Speed Rail) và High Speed 1 tại Vương quốc Anh, Arup nhận thấy rằng đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn, thay vì một công trình mang tính biểu tượng.

Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là có nên đầu tư đường sắt cao tốc hay không, mà là liệu những nền móng cần thiết đã được chuẩn bị từ hôm nay để dự án vận hành hiệu quả, khả thi về tài chính và tạo giá trị bền vững hay chưa.

Theo ông TC Chew, lý do để đầu tư đường sắt cao tốc không dừng ở việc rút ngắn thời gian di chuyển. Một tuyến kết nối Hà Nội với TPHCM, đi qua các trung tâm tỉnh thành trọng yếu, có thể mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, thúc đẩy du lịch, giảm trở ngại trong di chuyển và hỗ trợ mô hình phát triển cân bằng hơn giữa các vùng.

Ông chia sẻ, thành công của tham vọng phát triển đường sắt tại Việt Nam sẽ phụ thuộc không chỉ vào tốc độ vận hành của tuyến đường sắt cao tốc, mà còn vào việc các đô thị được quy hoạch, kết nối và phát triển như thế nào dọc theo hành lang tuyến.

Nhìn từ góc độ này, bài toán vốn cũng cần được nhìn nhận rộng hơn. Chi phí đầu tư ban đầu chắc chắn rất lớn, nhưng giá trị dài hạn của đường sắt cao tốc không chỉ nằm ở doanh thu vé, mà còn ở khả năng nâng giá trị đất đai, thu hút đầu tư, tái định hình không gian quanh nhà ga và mở rộng tiếp cận việc làm, dịch vụ.

Vì vậy, theo ông TC Chew phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-oriented development) cần được tính toán từ đầu, với các nhà ga được quy hoạch thành những trung tâm đô thị tích hợp, nơi nhà ở, thương mại, không gian công cộng và các phương thức di chuyển kết nối với nhau. Làm tốt, cách tiếp cận này có thể vừa cải thiện hiệu quả tài chính, vừa nâng chất lượng đô thị.

Một tuyến đường sắt cao tốc chỉ phát huy tốt khi toàn bộ hành trình được kết nối liền mạch. Vì vậy, quy hoạch quanh ga cần tính đến yếu tố liên thông từ đầu. Nếu hành khách xuống tàu phải đối mặt với ùn tắc, giao thông công cộng hạn chế hoặc chặng cuối kéo dài, lợi ích của tuyến đường sẽ bị suy giảm, ông TC Chew chỉ rõ.

Ông nhấn mạnh quy hoạch nhà ga cần gắn chặt với mạng lưới metro, xe buýt, sân bay và định hướng phát triển các khu vực lân cận, tạo ra một hành trình liền mạch từ điểm khởi hành đến điểm đến cuối cùng.

Để hiện thực hóa điều đó, năng lực tổ chức thực hiện quan trọng không kém tham vọng kỹ thuật. Các chương trình đường sắt quy mô lớn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, phương thức mua sắm và khả năng triển khai, từ phân chia gói thầu, phân bổ rủi ro, quy trình phê duyệt và thứ tự triển khai. Vì vậy, chương trình cần mô hình triển khai rõ ràng, lộ trình phân kỳ thực tế và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng lớn cũng tạo cơ hội nâng cao năng lực nội tại của quốc gia, từ củng cố năng lực kỹ thuật, năng lực về công nghệ và các hệ thống số, năng lực quản lý vận hành, kỹ năng thi công chuyên biệt và chuỗi cung ứng trong nước. Điều này đòi hỏi kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, cùng các hợp đồng thực sự tạo điều kiện cho chuyển giao tri thức.

Niềm tin của công chúng là điều kiện quan trọng để dự án quy mô lớn nhận được sự ủng hộ trong dài hạn. Vì vậy, ông TC Chew nhấn mạnh cần minh bạch về phương án tuyến, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, tổng mức đầu tư, tiến độ và những lợi ích kỳ vọng, giúp người dân hiểu tác động của dự án tới khả năng di chuyển, tiếp cận và cơ hội kinh tế.





Address

Đồng Nai

Telephone

+84986600669

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TUỔI TRẺ XUÂN THÀNH posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share