Số hóa Di sản làng Hành Thiện

Số hóa Di sản làng Hành Thiện Nghiên cứu hệ thống Di sản văn hóa làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, nay là xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình.

CHUYỂN TỪ BẢO TỒN THỤ ĐỘNG SANG CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO KÝ ỨC QUỐC GIA (TBT - CTN Tô Lâm)Chiều 19/8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, ...
19/08/2026

CHUYỂN TỪ BẢO TỒN THỤ ĐỘNG SANG CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO KÝ ỨC QUỐC GIA (TBT - CTN Tô Lâm)

Chiều 19/8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng. Theo Báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện nay, cả nước có hơn 40.000 di tích và khoảng gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê.

Cả nước đã có 20.060 di vật, cổ vật được đăng ký theo quy định của Luật Di sản văn hóa, 177 bảo tàng, lưu giữ và trưng bày trên 4 triệu tài liệu hiện vật, trong đó có nhiều sưu tập, hiện vật đặc biệt quý hiếm; đã có 1.881 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú.

Công tác kiểm kê, xếp hạng, ghi danh di sản, tôn vinh nghệ nhân đạt nhiều kết quả quan trọng. Nhiều bảo tàng đã trở thành những điểm đến nổi bật, thường xuyên được kết nối trong các tuyến du lịch văn hóa.

Hệ thống bảo tàng chuyên ngành được phát huy, khẳng định tầm quan trọng của công tác bảo tồn, bảo tàng trong xây dựng, phát triển đất nước. Vị thế, uy tín của Việt Nam tại UNESCO và các cơ chế đa phương về văn hóa được nâng cao rõ rệt...

Báo cáo cũng chỉ ra một số hạn chế, khó khăn như công tác kiểm kê, sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể ở một số địa phương còn chưa thực sự được quan tâm.

Chất lượng nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, nhất là về bảo quản, phục chế, giám tuyển, giáo dục bảo tàng, nghiên cứu công chúng, truyền thông, dữ liệu số và quản trị bảo tàng hiện đại.

Một số bảo tàng như Lịch sử quốc gia, Mỹ thuật Việt Nam, Văn hóa các dân tộc Việt Nam sở hữu nhiều sưu tập quý hiếm và bề dày hoạt động nhưng chưa đủ mạnh để vươn lên ngang tầm các bảo tàng uy tín trong khu vực và trên thế giới do hạn chế về không gian và các điều kiện cần thiết khác để phát huy giá trị hiện vật phát triển thương hiệu…

Sau khi nghe báo cáo và các ý kiến trao đổi, phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phải nhìn lại một cách nghiêm túc năng lực kiến tạo và cấu trúc của hệ thống bảo tồn, bảo tàng; đồng thời xử lý dứt điểm những bất cập, dự án kéo dài và từng bước làm giàu các bộ sưu tập quốc gia.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải hoàn thành bước rà soát sơ bộ, nhận diện những vấn đề cấp bách; phải có báo cáo tổng thể, xác định rõ danh mục ưu tiên và phương án xử lý đối với từng nhóm vấn đề.

Việc rà soát cần bao gồm cả tình trạng các di tích, mức độ xuống cấp của những thiết chế đang vận hành và thứ tự ưu tiên đầu tư; tránh sửa chữa nhỏ lẻ, chắp vá kéo dài, đầu tư nhiều lần nhưng cuối cùng vẫn không giải quyết được căn bản vấn đề.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị phải khắc phục những khoảng trống trong việc lưu giữ lịch sử Việt Nam từ khi đất nước giành độc lập đến nay, nhất là lịch sử của quá trình kiến thiết, phát triển và biến đổi xã hội; phải hình thành năng lực nhận diện và kiến tạo di sản của tương lai ngay từ khi những giá trị ấy bắt đầu được hình thành.

Trách nhiệm của thế hệ hôm nay không chỉ là bảo vệ những gì cha ông để lại, mà còn phải suy nghĩ nghiêm túc xem chúng ta sẽ để lại điều gì cho hàng trăm, hàng nghìn năm và mãi mãi về sau.

Đây chính là bước chuyển từ bảo tồn thụ động sang chủ động kiến tạo ký ức quốc gia, trong đó mỗi thế hệ không chỉ tiếp nhận những gì quá khứ để lại, mà còn có trách nhiệm tạo dựng và gìn giữ những giá trị có thể trở thành di sản của đất nước qua hàng trăm, hàng nghìn năm sau.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, phải coi dữ liệu lịch sử, văn hóa và di sản là một bộ phận cốt lõi của hạ tầng văn hóa quốc gia.

Thiết lập Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài.

Có thể chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát triển dữ liệu, trí tuệ nhân tạo trong bảo vệ, bảo tồn, chuyển hóa giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế để phát triển công nghiệp văn hóa; phải giải quyết ngay bài toán bảo tồn số dài hạn...

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, trong thời đại trí tuệ nhân tạo, AI sẽ ngày càng tham gia sâu vào việc tìm kiếm, tổng hợp, diễn giải và truyền bá tri thức.

Nếu dữ liệu lịch sử, văn hóa của Việt Nam không đầy đủ, không được tổ chức tốt và không do chính chúng ta làm chủ, thì về lâu dài, những hệ thống khác có thể trở thành nơi định hình cách thế giới và thậm chí chính người Việt Nam hiểu về lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Đây là câu chuyện về chủ quyền tri thức, về quyền tự mình tổ chức và kể câu chuyện của dân tộc mình, chứ không chỉ là một dự án chuyển đổi số của ngành văn hóa.

Giá trị của mọi thiết chế bảo tồn và bảo tàng phải được khẳng định ở khả năng phục vụ con người, làm giàu đời sống xã hội và trao truyền giá trị cho các thế hệ tương lai.

Thực tiễn cho thấy những bảo tàng có nội dung tốt, cách kể chuyện tốt, không gian tốt và trải nghiệm tốt vẫn có thể thu hút hàng triệu lượt người mỗi năm. Điều đó chứng minh rằng công chúng không xa rời bảo tàng, vấn đề là bảo tàng có thực sự tạo ra giá trị để công chúng tìm đến hay không.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải đổi mới cách đánh giá hiệu quả hoạt động bảo tàng; phải đo được có bao nhiêu người đến, ai đến, người trẻ có đến không, có quay trở lại không, hoạt động giáo dục tạo ra tác động gì, nghiên cứu đóng góp được gì, dữ liệu được khai thác thế nào và xã hội nhận lại được gì từ nguồn lực Nhà nước đã đầu tư.

Bộ Giáo dục và Đào tạo phải phối hợp để đưa bảo tàng trở thành một không gian học tập thường xuyên, bởi lịch sử và văn hóa nếu chỉ được truyền đạt qua sách vở thì khó tạo ra sự gắn bó sâu sắc bằng việc được nhìn thấy hiện vật thật, không gian thật và những câu chuyện thật.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh cha ông đã trao lại cho chúng ta một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với một kho tàng lịch sử, ký ức vô cùng quý giá.

Trách nhiệm của thế hệ chúng ta không chỉ là giữ nguyên những gì đã nhận được, mà phải hiểu sâu hơn, làm giàu thêm và trao lại cho con cháu một nền tảng tri thức, lịch sử và văn hóa đầy đủ hơn.

Trách nhiệm của thế hệ hôm nay là kế thừa, phát triển, gìn giữ cho mạch nguồn lịch sử, văn hóa và bản sắc Việt Nam được tiếp nối liên tục, không đứt đoạn qua các thế hệ./.

Nguồn TTXVN

Kiến tạo "Hạ tầng văn hóa số": Định hình văn hoá Việt Nam trên không gian sốNghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 v...
14/08/2026

Kiến tạo "Hạ tầng văn hóa số": Định hình văn hoá Việt Nam trên không gian số

Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 về Hạ tầng văn hóa số được Chính phủ ban hành sẽ mở ra một không gian mới cho văn hóa Việt Nam - nơi mỗi người Việt gìn giữ, sáng tạo và thụ hưởng các giá trị tinh thần trong lòng thế giới công nghệ.

Với 5 chương, 20 điều, Nghị định đặt nền móng ban đầu cho việc phát triển hạ tầng văn hoá số, chính thức “khai sinh” nhiều nội dung quan trọng cho phát triển văn hoá; sản phẩm, dịch vụ văn hoá số và công tác quản lý nhà nước về văn hoá.

Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 2/12/2021 của Chính phủ phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2...
17/07/2026

Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 2/12/2021 của Chính phủ phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030.

Chương trình đặt mục tiêu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa trên nền tảng công nghệ số thống nhất, phục vụ công tác lưu trữ, quản lý, nghiên cứu, bảo tồn, khai thác, quảng bá di sản, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững; bảo đảm tích hợp được vào khung kiến trúc Chính phủ điện tử và Hệ tri thức Việt số hóa; đẩy mạnh chuyển đổi số, thực hiện liên thông dữ liệu số quốc gia về di sản văn hóa, bảo đảm đáp ứng hiệu quả dịch vụ cho xã hội, cộng đồng ở mọi lúc, mọi nơi.

Mục tiêu chính của chương trình đến năm 2030 gồm:
- Số hóa 100% các di tích quốc gia đặc biệt.
- Số hóa các di sản thế giới tại Việt Nam.
- Số hóa các hiện vật tại bảo tàng quốc gia.

Cách hoạt động của số hóa di sản giống như việc bạn chụp ảnh một bức tranh gia đình. Tuy nhiên, thay vì ảnh phẳng, công nghệ quét 3D tạo ra bản sao vật thể giống hệt. Bản sao này quay được 360 độ. Mọi người có thể xem chi tiết từng nét chạm khắc trên điện thoại hoặc máy tính. Chương trình giúp bảo vệ di sản khỏi thiên tai hoặc hư hỏng theo thời gian. Đồng thời, du khách quốc tế dễ dàng tìm hiểu văn hóa Việt Nam dù ở rất xa.

TỔ CHỨC THÔN XÓM Ở HÀNH THIỆN ĐẦU THẾ KỶ 20Về tổ chức thôn xóm “xã Hành Thiện” trước đây, nay là làng Hành Thiện, cụ Đặn...
18/06/2026

TỔ CHỨC THÔN XÓM Ở HÀNH THIỆN ĐẦU THẾ KỶ 20

Về tổ chức thôn xóm “xã Hành Thiện” trước đây, nay là làng Hành Thiện, cụ Đặng Xuân Viện (bố cụ Trường Chinh) soạn năm 1933-1934 đã ghi chép rất kỹ tại “HÀNH THIỆN XÃ CHÍ”, bởi cụ "muốn đem ngọn bút quan hoài, tả một bức tranh thiên cổ, để cho người sau xem đó làm gương". Nhân việc sắp xếp lại địa giới hành chính, chúng tôi xin phép chia sẻ lại để cán bộ địa phương, bà con quê hương có tư liệu tham khảo, làm cơ sở khoa học cho công tác điều chỉnh địa giới hành chính.

Trong bài LAI LỊCH XÃ HÀNH THIỆN, có chép:
"Đông giáp xã Thượng Phúc, Tây và Tây Bắc giáp xã Dũng Trí và sông Nhị Hà, Bắc giáp xã Hạc Châu, Nam giáp xã Ngọc Cục.

Dân cư ở làm 2 khu: Làng ngoài và làng trong. Nguyên trước chỉ có làng ngoài tức là nơi thổ cư kiểu hình cá chép, sau mới di cư vào làng trong về phía Tây Nam sông con, giáp xã Ngọc Cục, và một khu trong cư công điền là trại Chí Thiện giáp xã Bùi Chu.

Làng ngoài chia làm 14 giong, giong nọ cách giong kia 60 ngũ, mỗi giong chia làm hai xóm, nửa về phía Tây là Xóm trước, nửa về phía Đông là xóm sau, đường cái đi chung quanh làng, mỗi giong đều có đường nhỏ, xóm trước đi thông với xóm sau. Trong mỗi giong chia ra từng thổ cư một, mỗi thổ cư có một sào 5 miếng đất và ao, tuy có giong dài giong ngắn, nhưng số thổ cư chỉ nhất định là 1 sào 5 miếng mà thôi.

Làng trong, thường gọi là Xóm trong, ở về phía Tây cách làng ngoài 1 con sông nhỏ, gọi là xóm Phú Thọ, chia ra làm 4 xóm nhỏ, cũng có từng giong, địa thế tuy nhỏ hẹp, nhưng sinh tụ ngày một đông đúc, cũng là một nơi phồn thịnh."

TỔ CHỨC THÔN XÓM
Nguyên làng ta có 3 giáp: Giáp Bắc, Giáp Đông và Giáp Nam
Đất Bắc giáp xứ Tiền sơn từ Đồng Thổ xuống gần giữa làng, gồm có 5 giong. Đất giáp Đông ở giữa làng, gồm có 4 giong. Đất giáp Nam ở về cuối làng và gần miếu, gồm có 5 giong (kể cả giong cạnh chợ).

Trước kia, mỗi giáp có mấy thôn (tức phe) không rõ, duy xét bài bia ở các chuông chùa Trong, tại năm Cảnh Trị thứ 9 (1671) triều Lê-huyền-Tôn, và bài văn bia năm Chinh Hòa (1681 – 1704) triều Lê-hy-Tôn, thì giáp Đông có 4 thôn là Đông nhất, Đông nhì, Đông ba, Đông tư - Giáp Nam có 6 thôn là Nam nhất, Nam nhì nội, Nam nhì tiền, Nam ba, Nam tư và Nam ngũ - Giáp Bắc có 5 thôn Bắc nhất, Bắc nhì, Bắc ba, Bắc tư và Bắc ngũ.

Về sau Giáp Nam chia them ra 5 thôn là Nam nhì trung, Nam nhì hữu, Nam nhì tiền, Nam nhì tân và Nam ngũ phúc – Giáp Bắc chia them 2 thôn là Bắc lục và Bắc thất – Giáp Đông chia thêm thôn Đông nhì tân, nhưng bớt thôn Đông nhất. Hiện nay cộng có 21 thôn.

Những thôn mới chia từ năm nào kể sau này:
- Nam ngũ phúc: Nguyên thuộc thôn nam ngũ (nay gọi là Nam ngũ chính) năm Minh Mạng thứ 19 (1838) cụ Đốc học Bình-định Nguyễn-xuân-Tháp mới phân ra.
- Nam nhì trung: Nguyên thuộc thôn Nam nhì nội, năm Minh-Mạng thứ 21 (1840) cụ Tú tài Đặng-viết-Hòe mới phân ra.
- Nam nhì hữu: Nguyên trước thuộc Nam nhì nội, năm Tự-đức thứ 21 (1868) cụ Tú tài Đặng-vũ-Nghĩa mới phân ra.
- Nam nhì tân: Nguyên trước cũng thuộc thôn Nam nhì hữu, quảng niên hiệu Duy-Tân (1907 – 1916) mới chia thường gọi là phe Tân-tích.
- Bắc lục: chưa rõ chia từ năm nào.
- Bắc thất: Nguyên trước thuộc thôn Bắc lục chưa rõ chia ra năm nào.
- Đông nhì tân: Phân từ năm Tự-Đức thứ 15 (1862).

Ngoài ra:
Trại Chí-Thiện: Trại này thuộc xứ Đông Gòi, giáp xã Bùi-Chu, nên thường gọi là Trại Bùi, nguyên là công thổ của Làng. Trước kia ông Linh-mục Bùi-Chu phái người đến xin đem 60 mẫu ruộng để đổi lấy Trại này, nhưng cụ Tuần-phủ Đặng-xuân-Bảng không nghe, cụ cho rằng điền thổ là huyết mạch của dân không thể lấy chút lợi nhỏ mà đổi chác được.

TÊN CÁC XÓM

Làng ngoài có 14 giong, giong nào cũng chia làm 2 xóm: xóm trước và xóm sau, trừ giong thứ 1, thứ 12 và 14 thì cả giong chỉ có 1 xóm.

Giong số 1: có 1 xóm Bắc-Tiền.
Giong số 2: xóm Thượng-Thọ (phía trước) , xóm Bắc-Hậu (phía sau)
Giong số 3: xóm Đông-Thọ (phía trước) , xóm Tây-phúc-Thọ (phía sau)
Giong số 4: xóm Tập-Phúc (phía trước) , xóm Phúc-Thọ (phía sau)
Giong số 5: xóm Thiện-Trường (phía trước) , xóm Ngũ-Phúc (phía sau)
Giong số 6: xóm Hữu-Mục (phía trước) , xóm Phúc-Thiện (phía sau)
Giong số 7: xóm Thọ-Khải (phía trước) , xóm Thiện-Cư (phía sau)
Giong số 8: xóm Ngũ-Phúc (phía trước) , xóm Xuân-Thọ (phía sau)
Giong số 9: xóm Thọ-Phúc (phía trước) , xóm Thọ-Bình (phía sau)
Giong số 10: xóm Duyên-Thọ (phía trước) , xóm Trạch-Thiện (phía sau)
Giong số 11: xóm Ngũ-Phúc (phía trước) , xóm Hữu-Thiện (phía sau)
Giong số 12: có 1 xóm Nhân-Thọ
Giong số 13: xóm Phú-quý-Thọ (phía trước) , xóm Đại-Hữu (phía sau)
Giong số 14: có 1 xóm Ngũ-Phúc

Làng trong có 4 giong chia làm 4 xóm:
Tây Long, Trung Trinh, Đông Hữu, Đông Thành.

Làng ngoài cộng có 25 xóm, Làng trong cộng 4 xóm.

---
Mỗi một địa danh ở Hành Thiện, dù nhỏ hay lớn, đều được các vị tiền nhân túc nho, thông thạo chữ-nghĩa, sử sách đặt tên, gửi gắm nhiều ý nghĩa. Khi người Hành Thiện đi khai hoang lập ấp ở nơi khác, cũng đều đặt tên với cấu trúc phải có chữ “Hành” hoặc chữ “Thiện” ở vùng đất mới, để nhớ về quê cũ.

Tư liệu trên đây, là bản dịch quốc ngữ của Hành Thiện xã chí, do Hành Thiện tương tế hội trích dịch, ấn hành tại Sài Gòn năm 1974. Trong quá trình thu thập của chương trình Số hóa Di sản làng Hành Thiện, chúng tôi có thu thập số hóa được cuốn Hành Thiện phong thổ ký bản Hán văn, là một phiên bản của Hành Thiện xã chí do cụ Đặng Xuân Viện soạn, đang tàng bản tại làng. Bản đồ đính kèm là bản đồ được vẽ trong cuốn sách này, được dịch chú bởi chương trình Số hóa Di sản làng Hành Thiện, được giới thiệu tại trưng bày "Hành Thiện danh thơm" - chùa Keo Hành Thiện.
Chúng tôi vẫn đang vận động để nhận được sự hỗ trợ về nhân sự, tài chính cho việc dịch lại đầy đủ toàn bộ cuốn Hành Thiện xã chí/ Hành Thiện phong thổ ký này (cuốn quốc ngữ in năm 1974 không dịch đủ)

BIA GHI CHÉP VỀ ĐỀN THÁNH VĂN. (01)Đền thờ Thánh Khổng Tử (02) ở làng Hành Thiện đã có từ lâu rồi. Năm Canh Thân (1800) ...
20/05/2026

BIA GHI CHÉP VỀ ĐỀN THÁNH VĂN. (01)

Đền thờ Thánh Khổng Tử (02) ở làng Hành Thiện đã có từ lâu rồi. Năm Canh Thân (1800) (03), Đền bị cháy, dân làng đã xây dựng tạm lại ngôi Đền bằng gạch, nay vẫn còn dấu tích. Năm Tân Hợi (04) dưới triều vua Thiệu Trị (05) Đền được mở mang rộng ra, năm Kỷ Mùi (1859) có tu bổ, trang hoàng thêm.

Đến mùa xuân năm Bính Dần (1866) dưới triều Vua Tự Đức, Quan Tuần phủ Lượng Bình (諒平) (06) Đặng Ngọc Toán (07) bàn bạc cùng Hội Tư văn của làng xây dựng lại Đền Thánh. Xây dựng xong, Hội Tư Văn có nhờ tôi làm cho một bài ký, rằng, gỗ tứ thiết, bia, khám thờ, trụ đá, ngói lợp là do Quan Tuần phủ Đặng Ngọc Toán và Quan Án sát Quảng Yên (08) Đặng Xuân Bảng (09) xuất lương bổng của mình ra lo liệu, để dựng lên một toà chính đường, hai toà nhà tả vu, hữu vu, 1 lầu để bày lễ tế sinh (10). Gạch xây tường, đồ thờ cúng và các đồ lặt vặt là do những người trong làng đã đỗ đạt hoặc làm quan chức cũng như những gia đình nhân sĩ có điều kiện tiến cúng. Toàn bộ chi phí xây dựng tốn hết hơn 5.000 quan tiền. Đền Thánh khánh thành, Hội Tư Văn muốn khắc ghi vào bia đá để lưu truyền lại đến mãi mai sau.

Tôi nói, Núi cao để người ta ngẩng trông, đạo đức cao cả của Thánh để người ta noi theo học tập. Lòng người vốn là như vậy. Nay Hoàng đế nước nhà thực hành văn trị, đạo lớn rõ ràng, chữ nghĩa thánh hiền được tôn trọng, trong dân gian rất nhiều nơi đã xây dựng Đền Thánh to đẹp rồi, huống chi làng Hành Thiện ta lại nổi tiếng là làng văn hiến từ xa xưa, tưởng như việc ấy chẳng có gì lạ ! Có điều, nay nền mái mới thêm, đền đài thêm rộng, hoàn toàn là dựa vào công sức của các bậc nhân sĩ danh vọng trong làng, đáng ghi chép lại.

Tôi nói như vậy !

Thượng tuần tháng 4 năm thứ 19 thời Tự Đức – Bính Dần (4/1866).
Hoàng Giáp, Triều Liệt Đại Phu, Hàn Lâm viện Thị giảng học sĩ Phạm Văn Nghị tự Nghĩa Trai, người xã Tam Đăng, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, Tỉnh Nam Định soạn. (11)
PHỤ LỤC: Câu đối ở Đền Thánh do Tiến sĩ Đặng Hữu Dương (12) soạn, tiến cúng vào năm đầu dưới triều vua Thành Thái – Kỷ Sửu, 1889:
自生民來未之有
遊聖門者難為言
Tự sinh dân lai vị chi hữu,
Du Thánh môn giả nan vi ngôn,
僊洲文献春長在
聖澤源流膠水清
Tiên châu văn hiến Xuân Trường tại,
Thánh trạch nguyên lưu Giao Thuỷ thanh,
入其門見宗廟之美
升斯堂聞絃歌之聲
Nhập kỳ môn, kiến tông miếu chi mỹ,
Thăng tư đường, văn huyền ca chi thanh,
江山匯靈人文秀發
聖賢郛郭夏屋帲幪
Giang sơn hối linh, nhân văn tú phát,
Thánh hiền phu quách, hạ ốc bình mông,
----------------------

CHÚ THÍCH:

(01). - Bài văn bia này được chép ở trong tập sách được cho là sách “Hành Thiện Xã Chí” do Đặng Xuân Viện (con trai thứ 4 của Tiến Sĩ Đặng Xuân Bảng, bố đẻ Cố Tổng Bí thư Trường Chinh – Đặng Xuân Khu) soạn. Bản chép tay này (ảnh chụp trang sách kèm theo) là di cảo của Vũ Đức Đản, đỗ Cử nhân khoa thi năm Tân Mão 1891, thành viên Hội Tư văn làng Hành Thiện. Tôi được ông Vũ Nguyên Đàm – chắt của Vũ Khắc Đản chụp ảnh gửi cho (Đ.H.T). Phần phụ lục là do người viết bài ký về Đền Thánh bổ sung vào. Trên bản đồ (hình vẽ kèm theo) có ghi rõ vị trí của Đền Thánh làng Hành Thiện xưa.

(02). – Văn Từ - 文祠 - Đền Văn – Miếu Văn – Đền Thánh Văn: Là ngôi Đền thờ Khổng Tử ở các làng, xã xưa. Ở làng văn hiến Hành Thiện này, ngôi Văn Từ rất lớn. Theo một bác lớn tuổi người làng còn nhớ, thì sàn của Văn Từ rất rộng, có thể kê lọt hơn 20 khung cửi dệt vải thủ công, phía trước Văn Từ (nhìn ra cánh đồng cạnh sông Ninh Cơ) có hai cây muỗm cổ thụ, giữa khuôn viên Văn Từ, có dựng một hàng gồm nhiều bia đá (không biết là khắc ghi những nội dung gì !?, rất có thể là nhiều bia trong số đó ghi khắc tên tuổi những người đỗ đạt ở làng Hành Thiện !?. Sơ đồ Văn Từ làng Hành Thiện còn như in trong óc bác ấy nên khi tôi hỏi, bác ấy đã vẽ phác ngay ra được (ảnh chụp kèm theo – trong hình dòng mương (sông) chính là nơi xuất phát và về đích (bắt giải) của các trải mỗi kỳ bơi thi dịp Hội)). Những năm 1965 - 1970 Văn Từ Hành Thiện đã bị phá dỡ, lấy gạch ngói xây dựng vào công trình nào thì chưa rõ; bia đá, hoành phi câu đối thì tán lạc, nay chưa tìm ra tung tích. Trên nền Văn Từ, về sau làng xây dựng mấy gian nhà cấp 4, mái ngói làm Trụ sở Hợp tác xã Nông Nghiệp (nay – 2021 - vẫn còn ở phía sau Trường Tiểu học A xã Xuân Hồng).

(03). – Trong văn bia chỉ ghi là năm Canh Thân, mà là trước thời Thiệu Trị (1841 - 1847) nên tôi suy đoán là năm Canh Thân - 1800. Như vậy, Văn Từ làng Hành Thiện này phải xây dựng lần đầu muộn nhất là vào cuối thời Lê.

(04), (05) – Chỗ này bản chép có sự lầm lẫn. Nếu năm Tân Hợi mà là chép đúng, thì triều Vua lúc đó là Tự Đức (1851 – Tự Đức 4). Còn nếu triều Vua mà chép đúng (Thiệu Trị) thì cái năm Tân (X) đó phải là Tân Sửu = 1841 = Thiệu Trị năm đầu. (Đ.H.T)

(06). – Tuần phủ Lượng Bình có nghĩa là Tuần phủ của tỉnh Lạng Sơn – Cao Bằng. Trong văn bia khắc chữ “phủ đài - 撫臺“ nghĩa là ông quan, ngài Tuần phủ, ở đây là trỏ Đặng Kim Toán - 鄧金算(còn có tên là Đặng NGỌC Toán - 鄧玉算)

(07). - Theo sách “Các nhà khoa bảng Nam Định” của tác giả Trần Mỹ Giống (FB Trần Mỹ Giống), thì “Đặng Kim Toán, quê xã Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ, đỗ Phó bảng Ân khoa Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức 1 (1848), được bổ Hàn lâm viện Kiểm thảo, Tri phủ Tĩnh Gia, thăng Án sát Bắc Ninh, Thị giảng học sĩ. Năm Tự Đức 20 (1867), ông làm Tuần phủ Hộ lý Lạng Bình, Năm 1870 thành Lạng Sơn bị vây hãm, ông bị cách chức, đi hiệu lực. Sau ông được khôi phục hàm Hồng Lô Tự Khanh, lĩnh Bố Chánh Cao Bằng. Năm Tự Đức 27 (1874) ông làm Tuần phủ Ninh Bình, rồi được thăng Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An - Hà Tĩnh), chưa kịp đến nhiệm sở nhậm chức thì mất do đột quỵ.” Ông là cao tổ của Đặng Kim Ba – Chủ tịch CLB Thư pháp Hán Nôm tỉnh Nam Định. Cụ Đặng Kim Toán cũng là người lập 14 ấp tại vùng biển Giao Thủy ngày nay, được thờ làm thành hoàng làng ở những nơi này. Đặng Kim Toán làm quan nhân hậu, dân bản hạt rất kính quý, ca tụng và coi như Phật sống, phúc tinh. Khi ông mất, có người làm đôi câu đối viếng: “
翠山有意留生佛
鴻嶺無端望福星
Thuý Sơn hữu ý lưu sinh Phật
Hồng Lĩnh vô đoan vọng phúc tinh”
Với ý nghĩa là: “Núi Thuý Sơn ở Ninh Bình có ý lưu giữ ông Phật sống lại, núi Hồng Lĩnh ở Nghệ Tĩnh không được may mắn thấy vị phúc tinh”.

(08). – Nguyên văn: “NIẾT đài 臬臺” – “ông quan ở NIẾT ti - 臬司” nghĩa là ông quan coi việc xem xét, xử án., một cách gọi khác của chức quan “Án sát sứ - 桉察使“

(09). - Theo sách “Các nhà khoa bảng Nam Định”, thì: “Đặng Xuân Bảng, sinh năm 1828, đỗ Tú tài hai khoa 1846 và 1848, đỗ Cử nhân khoa Canh Tuất 1850, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Tự Đức 9 (1856). Sau khi đỗ Cử nhân ông đã ra làm Giáo thụ phủ Ninh Giang. Năm 1857 ông được sung vào Nội các tham gia chỉnh lý bộ “Nhân sự kim giám”. Năm 1859 ông giữ chức Quyền Tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hoá), năm 1860 làm Tri phủ Yên Bình (Tuyên Quang). Năm 1861 ông về Huế làm Giám sát Ngự sử. Năm 1864 ÔNG LÀM ÁN SÁT SỨ QUẢNG YÊN, cùng Trương Quốc Dụng dẹp giặc Khách và thổ phỉ. Năm 1867 ông làm Bố Chánh Thanh Hoá, năm 1868 đổi làm Bố Chánh Tuyên Quang, cùng Nguyễn Bá Nghi dẹp bọn Tàu Ô phá rối tỉnh lỵ, Năm 1869 ông lại đổi làm Bố Chánh Thanh Hoá, Bố Chánh Hà Nội rồi Bố Chánh Sơn Tây. Năm 1872 ông làm Tuần phủ Hải Dương…”.
Năm xây dựng lớn Đền Thánh Văn (Văn Từ) làng Hành Thiện này (1866) ông đương chức ÁN SÁT SỨ QUẢNG YÊN.

(10). – Tế sinh - 祭牲 – Lễ tế xưa dùng súc vật sống (trâu, dê), trong Đền Thánh phải có chỗ để bày dâng lễ, thực hiện nghi lễ hiến tế súc vật sống.

(11). - Theo sách “Các nhà khoa bảng Nam Định”, thì: “Phạm Văn Nghị tự là Nghĩa Trai (1805 - 1880), quê làng Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (nay thuộc thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Cha đỗ Nhị tràng và làm thầy đồ làng, Phạm Văn Nghị được đi học từ năm 8 tuổi, đỗ Tú tài khoa thi Ất Dậu (1825), đỗ Cử nhân khoa thi Đinh Dậu (1837), đỗ Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Minh Mệnh 19 (1838). Sau khi đỗ Hoàng Giáp, ông được bổ chức Hàn lâm viện tu soạn, rồi lần lượt giữ các chức: Quyền Tri phủ Lý Nhân, thăng Hàn lâm viện Tu soạn sung Sử quán Biên tu, Đốc học Nam Định, Thương biện tỉnh vụ, thăng Hàn lâm học sĩ, phụ trách Dinh điền sứ. Năm 70 tuổi, ông về nghỉ tại Động Liên Hoa (Ninh Bình) cho đến khi mất.” (Động Liên Hoa nằm ở địa phận thôn Trường An, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình – Đ.H.T)

(12). - Theo sách “Các nhà khoa bảng Nam Định”, thì: “Đặng Hữu Dương sinh năm 1860, quê làng Hành Thiện, là con trưởng của ông Đặng Hữu Thới và là cháu đích tôn của Cử nhân Giáo Thụ phủ Kinh Môn (Hải Dương) Đặng Văn Bính. Em ruột ông là Đặng Hữu Nữu (tức Do) cũng đỗ Cử nhân, làm Tri huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Đặng Hữu Dương đỗ Cử nhân khoa thi năm Kỷ Mão – 1879 - năm Tự Đức 32, Năm 1885 thi Hội trúng cách nhưng chưa truyền lô vì Kinh thành Huế có biến, năm 1889 ông thi Đình đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, cùng với ông Nguyễn Ngọc Liên cũng là người làng Hành Thiện.”. Chính năm đó – 1889 – Thành Thái nguyên niên, ông đã soạn, chế tiến cúng vào Văn Từ làng những câu đối trên.

(Một bài ký ngắn gọn mà có liên quan đến 4 vị đại khoa triều Nguyễn: Đặng Kim Toán, Đặng Xuân Bảng, Phạm Văn Nghị, Đặng Hữu Dương. Thật có lẽ là rất hiếm gặp!)

Bài viết dịch của bác Đỗ Trác (người Trà Lũ - Xuân Bắc)

VĂN HỘI THÔNG KÝ là tác phẩm Hán văn do Tri huyện Nguyễn Bá Nghị, người Hành Thiện, soạn từ cuối thế kỷ XVIII (thời Hậu ...
08/05/2026

VĂN HỘI THÔNG KÝ là tác phẩm Hán văn do Tri huyện Nguyễn Bá Nghị, người Hành Thiện, soạn từ cuối thế kỷ XVIII (thời Hậu Lê) cách nay hơn 250 năm, ghi chép về các vị danh hiền, đỗ đạt của làng để lưu truyền lâu dài. Cuốn sách này còn được biết đến với cái tên Hành Thiện bản ấp đăng khoa chí, ký hiệu HV.50, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm VASS, có bài tựa đầu tiên do cụ Nguyễn Bá Nghi viết vào năm Cảnh Hưng thứ 46, tức năm 1785, thời Lê Trung Hưng. Sau đó, sách được cụ Nguyễn Xuân Tháp tục biên vào năm Minh Mệnh thứ 3, tức năm 1822.

Trong quá trình sưu tầm tư liệu, chương trình Số hóa Di sản làng Hành Thiện đã được tiếp xúc với cuốn sách, Tàng bản hiện còn lưu tại làng Hành Thiện. Chúng tôi thấy rằng đây là cuốn sách có ý nghĩa lớn đối với quê hương, nên có mong muốn biên dịch lại và xuất bản với chữ Quốc ngữ để cộng đồng có thêm tư liệu về tổ tiên mình, cũng như có thêm thông tin về khoa bảng làng mình.

Ninh Bình đẩy mạnh chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa, di sảnSau sáp nhập, tỉnh Ninh Bình có khoảng 5.000 di tích đã được ki...
16/04/2026

Ninh Bình đẩy mạnh chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa, di sản

Sau sáp nhập, tỉnh Ninh Bình có khoảng 5.000 di tích đã được kiểm kê, trong đó có 10 di tích quốc gia đặc biệt và 42 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Tỉnh xác định, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, di sản là hướng đi tất yếu. Trong đó, việc số hóa không chỉ phục vụ công tác khai thác, quản lý và bảo tồn các điểm di tích mà còn giúp các giá trị di sản văn hóa được lan tỏa rộng rãi hơn đến thế hệ trẻ.

Chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa, trong đó số hóa di sản được ngành văn hóa Ninh Bình xác định là giải pháp tối ưu hóa khả năng lưu trữ, quản lý, bảo tồn, khai thác, quảng bá, nâng tầm giá trị di sản theo hướng bền vững. Từ nền tảng di sản phong phú, tỉnh đã triển khai chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý di tích, số hóa tư liệu, hình ảnh và hiện vật phục vụ quảng bá; phát triển các cổng thông tin và nền tảng du lịch trực tuyến; đẩy mạnh truyền thông số trên mạng xã hội và hệ sinh thái truyền thông số quốc gia.

Hiện nay, công nghệ số đang đóng vai trò quan trọng hỗ trợ cho du khách tìm được những địa chỉ và các thông tin thiết thực, hiệu quả cho nhiều chuyến đi. Lần đầu tiên được về khu du lịch Tràng An, Bái Đính của tỉnh Ninh Bình, chị Đào Thu Hằng, một du khách ở Hà Nội chia sẻ: “Sau khi xem các video quảng bá về các điểm du lịch của Ninh Bình trên các nền tảng số, tôi rất ấn tượng với cảnh đẹp thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ của Tràng An, mùa lúa chín ở Tam Cốc, mùa bướm rừng Cúc Phương… điều đó đã thôi thúc tôi và những người bạn tìm về Ninh Bình”.

Thực tế cho thấy, việc ứng dụng khoa học, công nghệ gắn với chuyển đổi số không chỉ thay đổi phương thức quản lý, quảng bá mà còn tác động trực tiếp đến đời sống, sinh kế của người dân, góp phần giảm nghèo và nâng cao thu nhập một cách bền vững. Anh Lê Văn Hồng, khu du lịch Thung Nham cho biết: “Khi chưa tiếp cận chuyển đổi số trong công việc, gia đình tôi làm du lịch chủ yếu dựa vào khách quen và các đoàn nhỏ, lượng khách không ổn định. Từ khi được các cấp chính quyền, các công ty lữ hành tuyên truyền, hướng dẫn quảng bá trên các nền tảng số về du lịch và các ứng dụng đặt phòng, homestay của gia đình được nhiều du khách biết đến hơn. Nhờ đó, công việc kinh doanh của gia đình tôi thuận lợi hơn rất nhiều, thu nhập của gia đình cũng cải thiện rõ rệt, chúng tôi có điều kiện đầu tư thêm cơ sở vật chất và dịch vụ để phục vụ du khách tốt hơn”.

Thực hiện Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030, Sở Văn hóa và Thể thao Ninh Bình đã triển khai xây dựng hệ thống quản lý thông tin, tạo lập cơ sở dữ liệu cho các hiện vật tiêu biểu tại Bảo tàng tỉnh. Với đặc thù của lĩnh vực bảo tàng, công tác chuyển đổi số đóng vai trò then chốt trong bảo tồn, phát huy giá trị của các hiện vật, di sản. Để làm phong phú thêm trải nghiệm trực tuyến cho công chúng, Bảo tàng Ninh Bình đã số hóa và giới thiệu nhiều hiện vật tiêu biểu. Nhờ đó, du khách có thể dễ dàng khám phá hiện vật với đầy đủ thông số kỹ thuật về màu sắc, kích thước và lịch sử. Bảo tàng tỉnh hiện đang bảo quản hơn 92 nghìn tài liệu hiện vật, nếu như trước đây, việc quản lý, theo dõi hiện vật thường sử dụng hình thức viết tay các loại phích, phiếu, lý lịch hiện vật... mất nhiều thời gian, công sức, lượng thông tin hiện vật không nhiều, khai thác thông tin, hồ sơ hiện vật khó khăn. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý hiện vật đã giúp cho việc quản lý hiện vật trong Bảo tàng khoa học, nhanh chóng và chính xác hơn. Chỉ cần đưa ra một trong những tiêu chí về hiện vật như: Tên gọi hiện vật, số kiểm kê, chất liệu, niên đại, nguồn gốc… cán bộ Phòng Kiểm kê - Bảo quản sẽ truy tìm được hiện vật đó với đầy đủ thông tin.

Ông Đỗ Văn Hiến, Giám đốc Bảo tàng tỉnh cho biết: Việc đưa không gian trưng bày lên nền tảng trực tuyến không chỉ là “số hóa” hình ảnh, mà là tái định nghĩa trải nghiệm di sản đã mang lại hiệu quả cao. Công chúng có thể tham quan từ bất cứ đâu, bất cứ khi nào, loại bỏ rào cản về khoảng cách địa lý và chi phí đi lại. Tạo ra một bản sao kỹ thuật số chính xác của không gian thực, giúp bảo tồn hình ảnh hiện vật ngay cả khi bản gốc bị xuống cấp theo thời gian; phục vụ được số lượng người xem khổng lồ cùng lúc, điều mà các bảo tàng vật lý khó đáp ứng do giới hạn diện tích. Nền tảng trực tuyến cho phép tích hợp đa phương tiện (video, âm thanh, văn bản chi tiết, mô hình 3D) mà không làm “rối” không gian trưng bày thực tế. Việc ứng dụng công nghệ đã giúp thay đổi phương thức tương tác từ “xem thụ động” sang “trải nghiệm chủ động”; từ “Cấm sờ hiện vật” đến “Tương tác sâu”: Với công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR), người xem có thể xoay lật hiện vật 360 độ, phóng to để soi rõ từng nét, từng hoa văn, điều không thể làm qua lớp kính bảo vệ tại bảo tàng. Các ứng dụng trình chiếu hiện đại kết hợp âm thanh vòm, hiệu ứng ánh sáng và mô phỏng bối cảnh lịch sử, khiến người xem cảm thấy như đang sống trong không gian của hiện vật đó chứ không chỉ là đứng nhìn. Như vậy, việc đưa ứng dụng công nghệ giúp hiện vật bước ra khỏi tủ kính để trở nên sống động và gần gũi hơn với thế hệ số.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số trong văn hóa, di sản tại Ninh Bình chủ yếu ở cấp độ ứng dụng công nghệ hỗ trợ, chưa hình thành mô hình quản trị di sản số toàn diện. Hoạt động số hóa phần lớn mang tính dự án đơn lẻ, chưa tạo lập được hệ sinh thái di sản số tích hợp phục vụ quản lý, nghiên cứu và khai thác kinh tế sáng tạo… Những hạn chế và thách thức cho thấy chuyển đổi số di sản văn hóa ở Ninh Bình thực chất là quá trình chuyển đổi mô hình quản trị văn hóa, đòi hỏi đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và xây dựng năng lực quản trị số, để phát huy hiệu quả việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa.

Theo báo Ninh Bình

SỐ HÓA BẢN ĐỒ CỔ Nhờ dự án Vietnam Map Archive (VMA) - Lưu trữ Bản đồ Việt Nam, người ta có thể bước qua ranh giới giữa ...
10/03/2026

SỐ HÓA BẢN ĐỒ CỔ

Nhờ dự án Vietnam Map Archive (VMA) - Lưu trữ Bản đồ Việt Nam, người ta có thể bước qua ranh giới giữa quá khứ và hiện tại chỉ bằng một cú chạm nhẹ trên máy tính hay điện thoại. VMA không đơn thuần là kho chứa ảnh tĩnh. Dự án này chọn cách "neo" những tấm bản đồ cũ lên nền bản đồ hiện đại, giúp người dùng thực hiện chuyến du hành thời gian khi chồng ghép hàng thế kỷ lịch sử lên chính vị trí họ đang đứng.

Xây dựng hạ tầng dữ liệu số để giữ lịch sử trên bản đồ là cách Lê Quang Tuệ - người sáng lập và điều hành dự án Vietnam Map Archive, cùng những thành viên trong nhóm âm thầm thực hiện. Hiện nhóm của Tuệ đã số hóa hơn 200 bản đồ cổ của Việt Nam trong đó có bản đồ cổ của Huế.

Trong kỷ nguyên số, khái niệm bảo tồn di sản đang có những bước chuyển dịch mạnh mẽ. Không chỉ dừng lại ở việc trùng tu vật lý hay trưng bày hiện vật trong tủ kính, bảo tồn giờ đây còn là cuộc đua của công nghệ lưu trữ và xử lý dữ liệu. Một dự án trong làn sóng này là Kho lưu trữ Bản đồ Việt Nam - Vietnam Map Archive (VMA) - sáng kiến do bạn trẻ Lê Quang Tuệ khởi xướng nhằm xây dựng hạ tầng tri thức số cho di sản Việt Nam.

Bạn đọc có thể liên hệ với nhóm qua website VMA (https://vmabeta.pages.dev) hoặc email [email protected].

Address

Xuan Hong Commune, Xuan Truong District
District
03503

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Số hóa Di sản làng Hành Thiện posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share