31/08/2026
Có thể bạn chưa biết:
Quảng Trị, tháng 5/1999, nắng hè như dội lửa trên nền đất Thành cổ – nơi từng là điểm nóng khốc liệt bậc nhất trong cuộc chiến năm 1972. Giữa những lớp đất cháy nắng và ký ức chưa từng ngủ yên, một căn hầm nhỏ được phát hiện. Trong lòng đất, 5 bộ hài cốt nằm cạnh nhau, chưa từng chia lìa suốt 27 năm. Một hài cốt trong tư thế ngồi tựa vào vách hầm, hai tay ôm chặt chiếc xắc cốt vào ngực khiến nhiều người lặng đi.
Cựu chiến binh Lê Bá Dương (trong ảnh) - một người lính từng giữ từng tấc đất Thành cổ, trở lại Quảng Trị trong chuyến hành hương thường niên cùng đồng đội. Ông nhận được tin báo: Trong khi thi công hệ thống thoát nước quanh khu vực bảo tàng Thành cổ, công nhân đã phát hiện một hầm chôn những người lính. “Khi tôi đến nơi, 5 bộ hài cốt đã được đưa lên khỏi lòng đất, đặt ngay ngắn trên những tấm vải đỏ. Một bộ hài cốt vẫn vẫn giữ chặt chiếc xắc cốt trong tay như không muốn rời...” Ông kể lại. Trong xắc cốt, có một cuốn sổ tay Đảng viên, 3 bức thư và một cuốn nhật ký. Tất cả được bọc kỹ trong túi nylon. Khi mở ra, mùi đất, mồ hôi, máu và mùi của thời gian như ùa ra. Những dòng chữ nhòe nước, giấy dính bết lại như từng được viết trong hơi thở cuối cùng.
Đó là bút tích của Đại úy Lê Binh Chủng, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 3, Bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị. Những trang đầu là ghi chép công tác, nhưng càng về sau, sổ tay chuyển thành nhật ký sinh tử. Nét chữ nhạt dần, run lên, như được viết dưới ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn pin trong căn hầm đã bị bom AD-6 đánh sập đầu tháng 8/1972. Căn hầm đổ. Tường thành vỡ. Năm người bị chôn vùi. Không ai bên ngoài nghe thấy họ. Bên trong, trong bóng tối đặc quánh và tuyệt vọng. Họ chờ. Họ sống. Và rồi, lần lượt, họ ra đi...
Là người chỉ huy, cũng là người anh cả của đội hình 5 người, Đại úy Lê Binh Chủng vừa vuốt mắt đồng đội, vừa cố giữ mình tỉnh táo. Không nước. Không lương khô. Thiếu cả dưỡng khí. Nhưng anh vẫn sống. Không phải bằng thể lực, mà bằng tinh thần và bằng những bức thư. Anh viết: “May còn chiếc đèn pin, thỉnh thoảng bấm lên ghi vội tình cảnh của mấy anh em… rồi lấy thư của Khơi (vợ liệt sĩ Chủng) ra đọc… Cũng chẳng dám đọc hết một lần, vừa tiết kiệm pin, vừa để dành mà đọc trong những ngày mình còn sống...Hôm nay, chiến sĩ thứ tư bị vùi trong hầm đã lại hy sinh… Còn lại một mình. Chiếc đèn pin yếu dần, chắc do pin cạn… Đành cố đọc nốt phần còn lại trong thư của Khơi, rồi phải gói cất vào bọc, chờ đến lượt mình...”.
Anh sống thêm được 5 ngày, đếm bằng kim đồng hồ. Mỗi ngày một đoạn thư. Ngày thứ năm, 7/8/1972, ánh đèn cạn pin, vụt tắt. Anh viết vội dòng cuối, gói thư, nhật ký, giấy tờ, đặt lại vào xắc cốt, ôm sát ngực. Ngồi tựa vách hầm, anh trút hơi thở cuối cùng.