14/07/2024
Bài số 6 - Chủ đề Tôn giáo 🪬
TRỪ TÀ: Dấu hiệu của người bị quỷ ám và các phương pháp trừ tà được thực hành trong Thiên Chúa giáo 🌠
By: Erwin
Trong đạo Thiên Chúa, trừ tà đã được đề cập từ thế kỷ thứ III và thứ IV trước công nguyên. Những triệu chứng của việc bị quỷ ám đã được Lactantius miêu tả từ đầu thế kỷ thứ IV như sau: tức giận vô cớ, tỏ ra tức giận hoặc sợ hãi khi nhắc đến Chúa hoặc tên các vị thánh trước mặt. Lactantius cho rằng những biểu hiện đó không phải bắt nguồn từ bản thân nạn nhân, mà là do những linh hồn đen tối chiếm lĩnh cơ thể họ xúi giục và sai khiến.
Trong cuốn sách The Devil Within: Possession and Exorcism in the Christian West, Brian Levack cũng đã miêu tả một số dấu hiệu của người bị quỷ ám như sau:
- Tức giận, hay nhắc đến cái chết, hay dọa nạt người khác
- Co cứng chân tay hoặc toàn bộ cơ thể cứng đờ như gỗ
- Cơ thể bị vặn vẹo thành những tư thế không tưởng mà người bình thường khó có thể làm được (Trong vụ trừ tà của các sơ dòng Ursuline vào năm 1662 tại Auxonne, Pháp, nạn nhân vặn ngược người về phía sau và dùng lưỡi liếm sàn nhà.)
- Đột nhiên sở hữu sức mạnh siêu nhiên
- Bay lên không trung (hiện tượng này được ghi nhận trong vụ trừ tà của một Mẹ bề trên tại Loudun, Pháp vào năm 1630, và cả vụ trừ tà của các xơ dòng Ursuline tại Auxonne, Pháp).
- Sưng cục tại vùng cổ, mặt, lưỡi, lồi mắt
- Và một số các hiện tượng khác như: nhịn ăn, mất chức năng của cơ thể, nôn mửa, etc.
- Một số dấu hiệu nữa đó là các nạn nhân bị quỷ ám thường có thể giao tiếp bằng tiếng Latin (dùng để chế nhạo chúa và Giáo hội), tiếng Hebrew, thậm chí cả tiếng Hy Lạp.
Các tài liệu về Margaret Murdoch - một nạn nhân bị quỷ ám vào thế kỷ thứ 17 cũng miêu tả rằng trên người cô có những vết cào cấu hay những vết đâm khiến da cô bị phồng rộp như bị dùi bằng một cục sắt nóng. Trường hợp của Jeanne Féry tại Mons vào năm 1584 hay Francoise Fontaine tại Louviers (Pháp) vào năm 1591 được ghi nhận rằng nạn nhân có xu hướng tìm cách để tự tử hoặc tự làm đau bản thân để thỏa mãn linh hồn quỷ dữ bên trong mình.
Từ thế kỷ thứ III, cùng với lễ rửa tội, lễ trừ tà là nghi thức được thực hành nhiều trong các nhà thờ châu u. Những thành phần được sử dụng trong việc trừ tà thời kỳ này là: Kinh Thánh, muối, dầu thơm, nước. Dòng Tu sinh (Ordo XI) đã thực hành trừ tà từ khoảng thế kỷ thứ VII. Nghi thức trừ tà thường khá đơn giản với ba bước, sử dụng thánh giá và đọc các lời chú nguyện với mục đích trục xuất linh hồn quỷ dữ ra khỏi người bị ám. [1]
1. Đặt tay lên người bị ám, có thể sử dụng thánh giá hoặc kinh thánh và đọc lời cầu nguyện ca ngợi Chúa cùng sức mạnh của Chúa
2. Nguyện cầu Chúa ban sức mạnh để trục xuất linh hồn quỷ dữ
Sau đó, nói trực tiếp và ra lệnh cho ác quỷ, nhắc đến sức mạnh toàn năng của Chúa.
3. Sỉ nhục ác quỷ bằng những danh xưng như: kẻ thù của đức tin nhân loại, kẻ gieo rắc cái chết, kẻ trốn tránh công lý, gốc rễ của tệ nạn, mầm mống của tệ nạn, kẻ dụ dỗ con người, kẻ phản bội loài người, kẻ kích động đố kỵ, nguồn gốc của lòng tham, nguyên nhân của sự bất hòa, kẻ gây ra đau buồn, chủ nhân của quỷ.
Trong tác phẩm The Technique of Exorcism, tác giả Campbell Bonner cũng trích dẫn như sau: Nhiệm vụ của người trừ tà không những phải khiến linh hồn quỷ dữ phải rời khỏi người nạn nhân mà còn phải khiến con quỷ làm một trong những điều sau: (1) trả lời hoặc phản hồi khi thầy trừ tà đọc lời cầu nguyện, (2) con quỷ phải xưng tên, hoặc ít nhất phải nói ra bản chất của nó hoặc tầng lớp nó thuộc về hoặc nói về nỗi sợ của nó. Thông thường người ta sẽ trục xuất linh hồn quỷ ra khỏi người bị ám thông qua một hành động mạnh bạo như: ngã xuống sàn, gầm thét rồi ngất, etc.
Brian Levack cũng tổng hợp các phương pháp trừ tà để trục xuất linh hồn quỷ dữ được sử dụng trong thời kỳ Trung đại tại Châu u.
I. Triệu hồi quỷ dữ nhân danh Chúa và Thánh thần.
Sẽ có nhiều phiên bản, tuy nhiên đại ý là phải gọi con quỷ lên giao tiếp với người trừ tà.
Trong một cuộc trừ tà của một tín đồ Tin Lành Edward Nyndge - người có bằng thạc sĩ thần học từ Cambridge, anh ta đã dùng từ "triệu hồi" trong nỗ lực đuổi quỷ ra khỏi cơ thể của anh trai bị quỷ ám, Alexander. Giữa những lời cầu nguyện nhiệt thành cho sự giải cứu của anh trai, Edward đã nói với con quỷ rằng: "Tên ác quỷ bẩn thỉu kia, ta triệu hồi ngươi, nhân danh Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế của chúng ta, con của Đức Chúa Trời toàn năng, rằng ngươi hãy nói với chúng ta."
II. Điều tra và khám phá danh tính của con quỷ
Sau khi con quỷ đã bị triệu hồi và được lệnh phải nói, nhiệm vụ chính của người trừ tà là phát hiện ra danh tính của nó. Nếu người trừ tà không thể lấy được thông tin mà họ mong muốn từ người bị quỷ ám, họ thường tìm cách thu thập nó bằng cách đọc cử chỉ và các động tác cơ thể của nạn nhân để phát hiện ra bản chất, quyền lực, và thậm chí là danh tính của quỷ.
III. Sử dụng sức mạnh vật lý nếu cần thiết
Mặc dù việc sử dụng bạo lực bị cấm trong việc trừ tà, Nhà thần học Dòng Tên người Tây Ban Nha Thomas Sanchez lập luận rằng việc sử dụng nó trực tiếp để trục xuất quỷ ra khỏi cơ thể của người bị quỷ ám là mê tín, nhưng hợp pháp nếu nhằm làm tổn thương lòng kiêu hãnh của quỷ và thuyết phục nó tự nguyện rời khỏi cơ thể con người.
Trong thời kỳ cận đại, các nhà trừ tà thỉnh thoảng đã sử dụng bạo lực thể xác trong nỗ lực trục xuất quỷ ám. Trong hầu hết các trường hợp, điều này bao gồm việc vật lộn hay thậm chí đánh đập người bị quỷ ám.
Trong một cuộc trừ tà mà Michel de Montaigne chứng kiến ở Rome vào năm 1581, linh mục đã trách mắng người bị quỷ ám, 'đấm mạnh vào người khốn khổ và nhổ nước bọt vào mặt anh ta.'
Trong cuộc trừ tà Madeleine Demandols năm 1611, khán giả được mời giẫm lên người bị quỷ ám.
Tại Louviers năm 1643, Giám mục Péricard đã đánh đập một trong những nữ tu bị ám để khiến Leviathan, con quỷ bị cho là đã chiếm hữu nữ tu chui vào một cái hố để tìm bùa chú mà các phù thủy đã dùng để sai khiến con quỷ ám vị nữ tu này.
Nhà viết kịch người Anh Thomas Killigrew, người đã quan sát các cuộc trừ tà tại Loudun, đã thấy một linh mục giẫm lên ngực một nữ tu, đánh cô ấy khi cô ấy nằm ngửa với gót chân dưới mông, và sau đó 'giẫm chân lên cổ họng cô ấy, yêu cầu con quỷ giải thích lý do tại sao nó nằm ở tư thế kỳ lạ đó.'
Việc đối xử thô bạo với người bị quỷ ám đã được biện minh như là sự trả đũa cho những tra tấn và 'dằn vặt' mà quỷ đã gây ra cho người bị quỷ ám, chẳng hạn như ném họ xuống đất, đâm thủng cơ thể họ và đe dọa xé xác họ. Những tuyên bố rằng con quỷ đôi khi tấn công nhà trừ tà đã cung cấp thêm sự biện minh cho sự trả đũa thể xác như vậy.
Một số nạn nhân bị quỷ ám được ghi nhận đã t.ử. v.o.n.g khi thực hiện nghi thức trừ tà.
IV. Sử dụng các linh bảo (các đồ vật linh thiêng được ban phước)
Đặc điểm nổi bật nhất của các cuộc trừ tà công khai của Công giáo ở Pháp và Đức trong thời kỳ Counter-Reformation là việc sử dụng bánh thánh và các vật thể thiêng liêng hoặc được ban phước.
1. Bánh hoặc rượu thánh:
Người Công giáo tin rằng, bánh thánh được ban phước thực sự và căn bản là thân thể và máu của Chúa Kitô, thì đó là một phương pháp mạnh mẽ để trừ tà. Thường thì bánh thánh được cho người bị quỷ ám ăn, thường là trước khi buổi lễ bắt đầu sau khi nạn nhân đã xưng tội.
Mặc dù Vatican chính thức không chấp nhận phương pháp trừ tà này, trên cơ sở rằng các nhà trừ tà không nên sử dụng Sự Hiện Diện Thiêng Liêng để triệu hồi ác quỷ, các nhà trừ tà vẫn tiếp tục sử dụng Thánh Thể trong các cuộc trừ tà suốt thế kỷ XVII. Linh mục được bổ nhiệm để trừ tà cho nạn nhân Jeanne Féry vào năm 1584 đã ép chặt bánh thánh lên cơ thể.
2. Dùng các linh bảo được ban phước khác:
Tuy bánh và rượu thánh hay được sử dụng, việc đặt các vật thể thiêng liêng lên cơ thể của người bị quỷ ám lại phổ biến hơn nhiều. Một số nạn nhân phải trần truồng và bị buộc vào một cây nến thánh dài bằng cơ thể của Chúa Kitô hoặc thân của thánh giá khi linh mục đọc lời trừ tà.
Rắc nước thánh lên người bị quỷ ám là một phương pháp phổ biến khác, mặc dù Aquinas đã cho rằng thực hành này chỉ hiệu quả đối với sự ám ảnh bên ngoài, không phải sự chiếm hữu. Trong cuộc trừ tà Apolonia Geisslbrecht năm 1582, các nhà trừ tà đã sử dụng nước thánh, nước rửa tội và nước thường trong buổi lễ không chỉ làm giảm sự đau đớn mà còn để kiểm tra liệu nạn nhân có bị quỷ ám thật hay không.
Trong cuộc trừ tà Marthe Brossier, các nhà trừ tà đã đặt các di vật của thánh giá thật vào miệng người bị quỷ ám.
Các lễ phục mà các linh mục sử dụng khi cử hành Thánh lễ cũng được cho là các kênh dẫn sức mạnh chữa lành thiêng liêng. Áo lễ của linh mục, áo ngoài, có thể được đặt lên cơ thể của người bị quỷ ám, trong khi khăn quàng cổ của ông thường được quấn quanh cổ của người bị ám.
Nhà thần học người Thụy Sĩ Heinrich Bullinger còn thực hiện các buổi trừ tà bằng các vật liệu như thảo mộc, muối, rượu, đường hoa hồng, đá và giấy da. Các mảnh giấy da thường được khắc chữ và sau đó được sử dụng như bùa chú hoặc bùa hộ mệnh để đặt lên cơ thể của người bị ám. Việc sử dụng nước thánh và muối được ban phước, đã được sử dụng trong các cuộc trừ tà từ đầu thế kỷ thứ IX, nhưng bùa chú và các biện pháp tự nhiên cũng bị Vatican lên án vào năm 1614.
Đối với người theo đạo Tin lành, vật thể duy nhất được phép sử dụng trong các nghi thức trừ tà của họ là Kinh thánh vì nó chứa Lời của Chúa. Trong nỗ lực trục xuất con quỷ đang hành hạ nạn nhân theo đạo Thanh giáo Alexander Nyndge, một cuốn Kinh thánh, mở ra đoạn văn trong Luca 8:26, trong đó Chúa Kitô trục xuất một linh hồn ô uế, được đặt lên cơ thể của Alexander. Thủ tục này có vẻ giống với thực hành của Công giáo là đặt di vật, bánh thánh, hoặc lễ phục của linh mục lên người bị quỷ ám. Khi được đặt lên cơ thể của Alexander Nyndge, Kinh thánh trở thành một vật thể gần như ma thuật.
V. Cầu nguyện
Người Công giáo hay cầu nguyện cả Đức Mẹ Đồng Trinh Maria trong khi người Tin lành lại phản đối điều này vì họ cho rằng chỉ có Chúa mới đủ quyền năng để trục xuất quỷ dữ khỏi cơ thể con người. Thông thường các cuộc trừ tà của các linh mục Công giáo, họ thường sẽ đối thoại với con quỷ để tìm hiểu lý do nó ám nạn nhân là gì trong khi các linh mục Tin lành sẽ chỉ tập trung vào việc trục xuất con quỷ thành công. Tuy nhiên sau này, các linh mục Tin lành bắt đầu thực hành việc đối thoại vì họ thấy tác dụng của nó trong việc ngăn chặn quỷ quay lại.
Năm 1574, hai mục sư Tin lành chủ trì việc trừ tà cho Mildred Norrington tại Westwell (Anh Quốc), đã 'ra lệnh cho Satan nhân danh Chúa vĩnh cửu và con trai của Ngài là Chúa Jeus, nói ra từ đâu nó đến'. Sau một loạt các trao đổi kéo dài, con quỷ trả lời rằng tên của nó là Satan và rằng Alice Norrington, mẹ của Mildred là người đã gửi nó ám con gái của bà. Nó cũng tiết lộ rằng Alice đã giữ nó trong hai cái chai dưới bức tường nhà bà.
Trải qua các thời kỳ khác nhau của Thiên Chúa giáo, các phương pháp về trừ tà có thể thay đổi, trở nên phức tạp hơn và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như văn hóa, xã hội, hệ tư tưởng, dân tộc, giáo lý. Tuy nhiên Erwin by the Stars mong rằng bài viết này sẽ mang đến cho các bạn một bức tranh tổng quan về hiện tượng này và các phương pháp trục xuất các thế lực đen tối ra khỏi nạn nhân. 😄
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A history of Exorcism in Christianity by Francis Young
2. Campbell Bonner (1943). The Technique of Exorcism. Harvard Theological Review, 36, pp 39-49. DOI: 10.1017/S0017816000029072
3. LEVACK, BRIAN P. The Devil Within: Possession and Exorcism in the Christian West. Yale University Press, 2013. JSTOR, http://www.jstor.org/stable/j.ctt32bnwx. Accessed 14 July 2024.