Erwin from the Stars

Erwin from the Stars We are here to learn and to write. 📝

Bài số 6 - Chủ đề Tôn giáo 🪬TRỪ TÀ: Dấu hiệu của người bị quỷ ám và các phương pháp trừ tà được thực hành trong Thiên Ch...
14/07/2024

Bài số 6 - Chủ đề Tôn giáo 🪬

TRỪ TÀ: Dấu hiệu của người bị quỷ ám và các phương pháp trừ tà được thực hành trong Thiên Chúa giáo 🌠

By: Erwin

Trong đạo Thiên Chúa, trừ tà đã được đề cập từ thế kỷ thứ III và thứ IV trước công nguyên. Những triệu chứng của việc bị quỷ ám đã được Lactantius miêu tả từ đầu thế kỷ thứ IV như sau: tức giận vô cớ, tỏ ra tức giận hoặc sợ hãi khi nhắc đến Chúa hoặc tên các vị thánh trước mặt. Lactantius cho rằng những biểu hiện đó không phải bắt nguồn từ bản thân nạn nhân, mà là do những linh hồn đen tối chiếm lĩnh cơ thể họ xúi giục và sai khiến.

Trong cuốn sách The Devil Within: Possession and Exorcism in the Christian West, Brian Levack cũng đã miêu tả một số dấu hiệu của người bị quỷ ám như sau:

- Tức giận, hay nhắc đến cái chết, hay dọa nạt người khác
- Co cứng chân tay hoặc toàn bộ cơ thể cứng đờ như gỗ
- Cơ thể bị vặn vẹo thành những tư thế không tưởng mà người bình thường khó có thể làm được (Trong vụ trừ tà của các sơ dòng Ursuline vào năm 1662 tại Auxonne, Pháp, nạn nhân vặn ngược người về phía sau và dùng lưỡi liếm sàn nhà.)
- Đột nhiên sở hữu sức mạnh siêu nhiên
- Bay lên không trung (hiện tượng này được ghi nhận trong vụ trừ tà của một Mẹ bề trên tại Loudun, Pháp vào năm 1630, và cả vụ trừ tà của các xơ dòng Ursuline tại Auxonne, Pháp).
- Sưng cục tại vùng cổ, mặt, lưỡi, lồi mắt
- Và một số các hiện tượng khác như: nhịn ăn, mất chức năng của cơ thể, nôn mửa, etc.
- Một số dấu hiệu nữa đó là các nạn nhân bị quỷ ám thường có thể giao tiếp bằng tiếng Latin (dùng để chế nhạo chúa và Giáo hội), tiếng Hebrew, thậm chí cả tiếng Hy Lạp.

Các tài liệu về Margaret Murdoch - một nạn nhân bị quỷ ám vào thế kỷ thứ 17 cũng miêu tả rằng trên người cô có những vết cào cấu hay những vết đâm khiến da cô bị phồng rộp như bị dùi bằng một cục sắt nóng. Trường hợp của Jeanne Féry tại Mons vào năm 1584 hay Francoise Fontaine tại Louviers (Pháp) vào năm 1591 được ghi nhận rằng nạn nhân có xu hướng tìm cách để tự tử hoặc tự làm đau bản thân để thỏa mãn linh hồn quỷ dữ bên trong mình.

Từ thế kỷ thứ III, cùng với lễ rửa tội, lễ trừ tà là nghi thức được thực hành nhiều trong các nhà thờ châu u. Những thành phần được sử dụng trong việc trừ tà thời kỳ này là: Kinh Thánh, muối, dầu thơm, nước. Dòng Tu sinh (Ordo XI) đã thực hành trừ tà từ khoảng thế kỷ thứ VII. Nghi thức trừ tà thường khá đơn giản với ba bước, sử dụng thánh giá và đọc các lời chú nguyện với mục đích trục xuất linh hồn quỷ dữ ra khỏi người bị ám. [1]

1. Đặt tay lên người bị ám, có thể sử dụng thánh giá hoặc kinh thánh và đọc lời cầu nguyện ca ngợi Chúa cùng sức mạnh của Chúa
2. Nguyện cầu Chúa ban sức mạnh để trục xuất linh hồn quỷ dữ
Sau đó, nói trực tiếp và ra lệnh cho ác quỷ, nhắc đến sức mạnh toàn năng của Chúa.
3. Sỉ nhục ác quỷ bằng những danh xưng như: kẻ thù của đức tin nhân loại, kẻ gieo rắc cái chết, kẻ trốn tránh công lý, gốc rễ của tệ nạn, mầm mống của tệ nạn, kẻ dụ dỗ con người, kẻ phản bội loài người, kẻ kích động đố kỵ, nguồn gốc của lòng tham, nguyên nhân của sự bất hòa, kẻ gây ra đau buồn, chủ nhân của quỷ.

Trong tác phẩm The Technique of Exorcism, tác giả Campbell Bonner cũng trích dẫn như sau: Nhiệm vụ của người trừ tà không những phải khiến linh hồn quỷ dữ phải rời khỏi người nạn nhân mà còn phải khiến con quỷ làm một trong những điều sau: (1) trả lời hoặc phản hồi khi thầy trừ tà đọc lời cầu nguyện, (2) con quỷ phải xưng tên, hoặc ít nhất phải nói ra bản chất của nó hoặc tầng lớp nó thuộc về hoặc nói về nỗi sợ của nó. Thông thường người ta sẽ trục xuất linh hồn quỷ ra khỏi người bị ám thông qua một hành động mạnh bạo như: ngã xuống sàn, gầm thét rồi ngất, etc.

Brian Levack cũng tổng hợp các phương pháp trừ tà để trục xuất linh hồn quỷ dữ được sử dụng trong thời kỳ Trung đại tại Châu u.

I. Triệu hồi quỷ dữ nhân danh Chúa và Thánh thần.

Sẽ có nhiều phiên bản, tuy nhiên đại ý là phải gọi con quỷ lên giao tiếp với người trừ tà.

Trong một cuộc trừ tà của một tín đồ Tin Lành Edward Nyndge - người có bằng thạc sĩ thần học từ Cambridge, anh ta đã dùng từ "triệu hồi" trong nỗ lực đuổi quỷ ra khỏi cơ thể của anh trai bị quỷ ám, Alexander. Giữa những lời cầu nguyện nhiệt thành cho sự giải cứu của anh trai, Edward đã nói với con quỷ rằng: "Tên ác quỷ bẩn thỉu kia, ta triệu hồi ngươi, nhân danh Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế của chúng ta, con của Đức Chúa Trời toàn năng, rằng ngươi hãy nói với chúng ta."

II. Điều tra và khám phá danh tính của con quỷ

Sau khi con quỷ đã bị triệu hồi và được lệnh phải nói, nhiệm vụ chính của người trừ tà là phát hiện ra danh tính của nó. Nếu người trừ tà không thể lấy được thông tin mà họ mong muốn từ người bị quỷ ám, họ thường tìm cách thu thập nó bằng cách đọc cử chỉ và các động tác cơ thể của nạn nhân để phát hiện ra bản chất, quyền lực, và thậm chí là danh tính của quỷ.

III. Sử dụng sức mạnh vật lý nếu cần thiết

Mặc dù việc sử dụng bạo lực bị cấm trong việc trừ tà, Nhà thần học Dòng Tên người Tây Ban Nha Thomas Sanchez lập luận rằng việc sử dụng nó trực tiếp để trục xuất quỷ ra khỏi cơ thể của người bị quỷ ám là mê tín, nhưng hợp pháp nếu nhằm làm tổn thương lòng kiêu hãnh của quỷ và thuyết phục nó tự nguyện rời khỏi cơ thể con người.

Trong thời kỳ cận đại, các nhà trừ tà thỉnh thoảng đã sử dụng bạo lực thể xác trong nỗ lực trục xuất quỷ ám. Trong hầu hết các trường hợp, điều này bao gồm việc vật lộn hay thậm chí đánh đập người bị quỷ ám.

Trong một cuộc trừ tà mà Michel de Montaigne chứng kiến ​​ở Rome vào năm 1581, linh mục đã trách mắng người bị quỷ ám, 'đấm mạnh vào người khốn khổ và nhổ nước bọt vào mặt anh ta.'
Trong cuộc trừ tà Madeleine Demandols năm 1611, khán giả được mời giẫm lên người bị quỷ ám.

Tại Louviers năm 1643, Giám mục Péricard đã đánh đập một trong những nữ tu bị ám để khiến Leviathan, con quỷ bị cho là đã chiếm hữu nữ tu chui vào một cái hố để tìm bùa chú mà các phù thủy đã dùng để sai khiến con quỷ ám vị nữ tu này.
Nhà viết kịch người Anh Thomas Killigrew, người đã quan sát các cuộc trừ tà tại Loudun, đã thấy một linh mục giẫm lên ngực một nữ tu, đánh cô ấy khi cô ấy nằm ngửa với gót chân dưới mông, và sau đó 'giẫm chân lên cổ họng cô ấy, yêu cầu con quỷ giải thích lý do tại sao nó nằm ở tư thế kỳ lạ đó.'

Việc đối xử thô bạo với người bị quỷ ám đã được biện minh như là sự trả đũa cho những tra tấn và 'dằn vặt' mà quỷ đã gây ra cho người bị quỷ ám, chẳng hạn như ném họ xuống đất, đâm thủng cơ thể họ và đe dọa xé xác họ. Những tuyên bố rằng con quỷ đôi khi tấn công nhà trừ tà đã cung cấp thêm sự biện minh cho sự trả đũa thể xác như vậy.

Một số nạn nhân bị quỷ ám được ghi nhận đã t.ử. v.o.n.g khi thực hiện nghi thức trừ tà.

IV. Sử dụng các linh bảo (các đồ vật linh thiêng được ban phước)

Đặc điểm nổi bật nhất của các cuộc trừ tà công khai của Công giáo ở Pháp và Đức trong thời kỳ Counter-Reformation là việc sử dụng bánh thánh và các vật thể thiêng liêng hoặc được ban phước.

1. Bánh hoặc rượu thánh:

Người Công giáo tin rằng, bánh thánh được ban phước thực sự và căn bản là thân thể và máu của Chúa Kitô, thì đó là một phương pháp mạnh mẽ để trừ tà. Thường thì bánh thánh được cho người bị quỷ ám ăn, thường là trước khi buổi lễ bắt đầu sau khi nạn nhân đã xưng tội.

Mặc dù Vatican chính thức không chấp nhận phương pháp trừ tà này, trên cơ sở rằng các nhà trừ tà không nên sử dụng Sự Hiện Diện Thiêng Liêng để triệu hồi ác quỷ, các nhà trừ tà vẫn tiếp tục sử dụng Thánh Thể trong các cuộc trừ tà suốt thế kỷ XVII. Linh mục được bổ nhiệm để trừ tà cho nạn nhân Jeanne Féry vào năm 1584 đã ép chặt bánh thánh lên cơ thể.

2. Dùng các linh bảo được ban phước khác:

Tuy bánh và rượu thánh hay được sử dụng, việc đặt các vật thể thiêng liêng lên cơ thể của người bị quỷ ám lại phổ biến hơn nhiều. Một số nạn nhân phải trần truồng và bị buộc vào một cây nến thánh dài bằng cơ thể của Chúa Kitô hoặc thân của thánh giá khi linh mục đọc lời trừ tà.

Rắc nước thánh lên người bị quỷ ám là một phương pháp phổ biến khác, mặc dù Aquinas đã cho rằng thực hành này chỉ hiệu quả đối với sự ám ảnh bên ngoài, không phải sự chiếm hữu. Trong cuộc trừ tà Apolonia Geisslbrecht năm 1582, các nhà trừ tà đã sử dụng nước thánh, nước rửa tội và nước thường trong buổi lễ không chỉ làm giảm sự đau đớn mà còn để kiểm tra liệu nạn nhân có bị quỷ ám thật hay không.

Trong cuộc trừ tà Marthe Brossier, các nhà trừ tà đã đặt các di vật của thánh giá thật vào miệng người bị quỷ ám.

Các lễ phục mà các linh mục sử dụng khi cử hành Thánh lễ cũng được cho là các kênh dẫn sức mạnh chữa lành thiêng liêng. Áo lễ của linh mục, áo ngoài, có thể được đặt lên cơ thể của người bị quỷ ám, trong khi khăn quàng cổ của ông thường được quấn quanh cổ của người bị ám.

Nhà thần học người Thụy Sĩ Heinrich Bullinger còn thực hiện các buổi trừ tà bằng các vật liệu như thảo mộc, muối, rượu, đường hoa hồng, đá và giấy da. Các mảnh giấy da thường được khắc chữ và sau đó được sử dụng như bùa chú hoặc bùa hộ mệnh để đặt lên cơ thể của người bị ám. Việc sử dụng nước thánh và muối được ban phước, đã được sử dụng trong các cuộc trừ tà từ đầu thế kỷ thứ IX, nhưng bùa chú và các biện pháp tự nhiên cũng bị Vatican lên án vào năm 1614.

Đối với người theo đạo Tin lành, vật thể duy nhất được phép sử dụng trong các nghi thức trừ tà của họ là Kinh thánh vì nó chứa Lời của Chúa. Trong nỗ lực trục xuất con quỷ đang hành hạ nạn nhân theo đạo Thanh giáo Alexander Nyndge, một cuốn Kinh thánh, mở ra đoạn văn trong Luca 8:26, trong đó Chúa Kitô trục xuất một linh hồn ô uế, được đặt lên cơ thể của Alexander. Thủ tục này có vẻ giống với thực hành của Công giáo là đặt di vật, bánh thánh, hoặc lễ phục của linh mục lên người bị quỷ ám. Khi được đặt lên cơ thể của Alexander Nyndge, Kinh thánh trở thành một vật thể gần như ma thuật.

V. Cầu nguyện

Người Công giáo hay cầu nguyện cả Đức Mẹ Đồng Trinh Maria trong khi người Tin lành lại phản đối điều này vì họ cho rằng chỉ có Chúa mới đủ quyền năng để trục xuất quỷ dữ khỏi cơ thể con người. Thông thường các cuộc trừ tà của các linh mục Công giáo, họ thường sẽ đối thoại với con quỷ để tìm hiểu lý do nó ám nạn nhân là gì trong khi các linh mục Tin lành sẽ chỉ tập trung vào việc trục xuất con quỷ thành công. Tuy nhiên sau này, các linh mục Tin lành bắt đầu thực hành việc đối thoại vì họ thấy tác dụng của nó trong việc ngăn chặn quỷ quay lại.

Năm 1574, hai mục sư Tin lành chủ trì việc trừ tà cho Mildred Norrington tại Westwell (Anh Quốc), đã 'ra lệnh cho Satan nhân danh Chúa vĩnh cửu và con trai của Ngài là Chúa Jeus, nói ra từ đâu nó đến'. Sau một loạt các trao đổi kéo dài, con quỷ trả lời rằng tên của nó là Satan và rằng Alice Norrington, mẹ của Mildred là người đã gửi nó ám con gái của bà. Nó cũng tiết lộ rằng Alice đã giữ nó trong hai cái chai dưới bức tường nhà bà.

Trải qua các thời kỳ khác nhau của Thiên Chúa giáo, các phương pháp về trừ tà có thể thay đổi, trở nên phức tạp hơn và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như văn hóa, xã hội, hệ tư tưởng, dân tộc, giáo lý. Tuy nhiên Erwin by the Stars mong rằng bài viết này sẽ mang đến cho các bạn một bức tranh tổng quan về hiện tượng này và các phương pháp trục xuất các thế lực đen tối ra khỏi nạn nhân. 😄



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. A history of Exorcism in Christianity by Francis Young
2. Campbell Bonner (1943). The Technique of Exorcism. Harvard Theological Review, 36, pp 39-49. DOI: 10.1017/S0017816000029072
3. LEVACK, BRIAN P. The Devil Within: Possession and Exorcism in the Christian West. Yale University Press, 2013. JSTOR, http://www.jstor.org/stable/j.ctt32bnwx. Accessed 14 July 2024.

Bài số 5 - Chủ đề Môi trường 🥦DẤU CHÂN CARBON: Để hiểu hơn về áp lực mà con người đặt lên hệ sinh thái và Trái Đất 🤓By: ...
14/07/2024

Bài số 5 - Chủ đề Môi trường 🥦

DẤU CHÂN CARBON: Để hiểu hơn về áp lực mà con người đặt lên hệ sinh thái và Trái Đất 🤓

By: Trung

Khái niệm được cho là bắt nguồn từ nghiên cứu về Dấu chân sinh thái (Ecological Footprint) của Mathis Wackernagel và William Rees 1996. Khái niệm về Carbon Footprint dựa trên cơ sở rằng sẽ có một lượng khí thải xác định gây ảnh hưởng tới khí hậu đằng sau mỗi hoạt động sản xuất và tiêu thụ của con người. Và định nghĩa cho Carbon Footprint là thước đo lượng Co2 được phát ra trực tiếp và gián tiếp bởi hoạt động hoặc được tích lũy qua các giai đoạn trong vòng đời của một sản phẩm. [1]

Việc tính toán lượng khí thải carbon dựa trên cơ sở phương pháp định lượng Đánh giá vòng đời-Life cycle assessment (LCA) , lượng GHGs (Greenhouse Gases) phát thải thể hiện trong vòng đời của sản phẩm phải được ước tính và bổ sung, trong chu kỳ vòng đời bao gồm tất cả các giai đoạn liên quan đến một sản phẩm chẳng hạn như việc sản xuất nó ngay từ khâu nguyên liệu thô đến khâu đóng gói cuối cùng, phân phối, vận chuyển, sử dụng và đến giai đoạn thải bỏ cuối cùng.

Một số tiêu chuẩn và hướng dẫn có sẵn cho việc tính toán GHGs bao gồm:

- (Greenhouse Gases) GHG protocol of World Resource Institute(WRI)/World Business Council on Sustainable Development (WBCSD)
- ISO 14064
- Publicly Available Specifications-2050 (PAS 2050) of British Standard Institution (BSI)
- 2006 IPCC Guidelines for National Greenhouse Gas Inventories
ISO 14025 & ISO 14067

Như vậy, ta sẽ có một thước đo chung để tính toán lượng carbon thải ra để so sánh áp lực lên môi trường của các hàng hóa và dịch vụ, từ đó để có cái nhìn rõ ràng hơn trong việc cân nhắc lựa chọn các loại hàng hóa và dịch vụ này. Các bạn có thể xem các số liệu dưới đây để biết lượng carbon tiêu thải ra môi trường của một số loại bao bì:

21.51kg CO2e Plastic Bag (Strong Reusable)
6.92kg CO2e Plastic Bag (Basic Reusable)
5.52kg CO2e Paper Bag
1.58kg CO2e Plastic Bag (Single Use) [3]

Ví dụ giữ việc sửa dụng túi giấy và túi nhựa thì về cảm quan túi giấy có chất liệu thân thiện với môi trường hơn, nhưng khi ta sử dụng thước đo Dấu chân carbon, ta sẽ có một góc nhìn khác về áp lực lên môi trường của chúng. Với dấu carbon của túi nhựa dùng một lần là 1,58kg CO2, như vậy với túi giấy dấu carbon của chúng là 5,52kg CO2 áp lực lên môi trường gấp bốn lần túi nhựa dùng một lần. Do đó ta phải cần cân nhắc tới việc tái sử dụng để đạt điểm cân bằng.

Hay như một ví dụ khác trong lĩnh vực sản xuất lương thực, tương quan so sánh dấu carbon của các loạt thực phẩm với mỗi 100g thịt (hay protein). Thì ở đây với mỗi 100g protein từ thịt bò thường lượng carbon(49,89kg) sẽ cao gấp khoảng 8,7 lần so với thịt gia cầm (5,7kg) mỗi 100g protein . Từ đó việc lựa chọn hợp lý khẩu phần ăn sẽ có thể giúp đạt được những lợi ích về mặt môi trường.

Như vậy, liệu ta có thể khẳng định: ăn thịt gà sẽ bảo vệ môi trường hơn so với việc ăn thịt bò không?

Để trả lời câu hỏi này, chúng mình sẽ cùng tìm hiểu và lên bài chi tiết vào các bài sau của Erwin from the Stars.

Nguồn tham khảo:

[1] Wiedmann, T. and Minx, J. (2008). A Definition of 'Carbon Footprint'. In: C. C. Pertsova, Ecological Economics Research Trends: Chapter 1, pp. 1-11, Nova Science Publishers, Hauppauge NY, USA.
[2] Divya Pandey · Madhoolika Agrawal ·Jai Shanker Pandey (2010). Carbon footprint: current methods of estimation, 9-10
[3] https://www.co2everything.com/category/packaging
[4] https://ourworldindata.org/environmental-impacts-of-food

Bài số 4 - Chủ đề Lịch sử 🏁SRIN-MO: NỮ THẦN ĐẤT MẸ HAY NỮ QUỶ CỔ XƯA CỦA TÂY TẠNG? 🤓By: Erwin Truyền thuyết về nữ quỷ Tâ...
25/04/2024

Bài số 4 - Chủ đề Lịch sử 🏁

SRIN-MO: NỮ THẦN ĐẤT MẸ HAY NỮ QUỶ CỔ XƯA CỦA TÂY TẠNG? 🤓

By: Erwin

Truyền thuyết về nữ quỷ Tây Tạng và câu chuyện xây đền của Tán phổ Gampo, Xích Tôn Hoàng hậu, và Văn Thành công chúa đã thu hút rất nhiều sự chú ý của giới học thuật về những ý nghĩa đằng sau của nó.

Nhiều câu hỏi được đặt ra:

- Nữ quỷ Srin-mo này thực sự tượng trưng cho cái gì?
- Srin-mo được coi là quỷ, hay là một vị thần Đất mẹ như trong các nền văn minh khác?
- Liệu Srin-mo có phải là một hình ảnh nữ giới bị áp bức trong xã hội mang nặng tính nam quyền không?

Srin mo còn được các học giả học giả giải thích bằng nhiều hiện tượng hơn thế: tư tưởng áp bức phụ nữ dưới góc nhìn đề cao nam giới của xã hội Tây Tạng thời bấy giờ, sự đề cao sức mạnh của nam giới trong việc hòa giải các mâu thuẫn sắc tộc, hay đặc biệt hơn cả là sự bài trừ và áp lực của của Phật giáo Tây Tạng đối với các tôn giáo bản địa lâu đời đã tồn tại trên vùng đất này hàng ngàn năm về trước. Tuy nhiên, Giáo sư Mills từ Đại học Aberdeen cho rằng những giả thuyết trên đa phần đến từ các học giả Tây phương mà chưa bao giờ được xác nhận bởi cộng đồng học thuật Tây Tạng nên nó cần được xem lại một cách cẩn trọng. 🥸

Giáo sư đầu ngành về Tây Tạng tại Havard Divinity School Janet Gyatso cho rằng hình ảnh nữ quỷ tượng trưng cho Mẹ Đất trong khi các cấu trúc đền đài ghim xuống cơ thể của nữ quỷ tượng trưng cho tính nam mạnh mẽ. Hình ảnh Mẹ Đất gợi nhớ về một thời kỳ mẫu hệ tại Tây Tạng, khi mà tính nữ vẫn được tôn thờ. Trong các thần thoại, hình ảnh nữ thần Đất Mẹ luôn tượng trưng cho sự phì nhiêu, hỗn loạn, sinh sản, ham muốn thể xác, tình yêu. Giờ đây với 12 ngôi đền mới được xây, sự hỗn loạn hoang dã của nữ quỷ đã được chế ngự bởi tinh thần Phật giáo lý trí, quy củ và mang nặng tính nam quyền. 💁🏼‍♂️

Với các tôn giáo bản địa, dưới sâu lòng đất mẹ là nơi chứa những nguồn sức mạnh tâm linh vô cùng lớn. Những vị trí mà Văn Thành Công chúa chỉ ra cho Tán phổ Tùng Tán Cán Bố xây chùa thờ Phật là nơi tôn thờ các vị thần đất và thần núi của các tôn giáo bản địa với tầm quan trọng cực lớn về mặt tâm linh. Ý nghĩa phong thủy khi xây chùa trên những vị trí này để nhằm thu hút hết những năng lượng tốt cũng như lợi dụng luôn vị trí mang ý nghĩa lâu đời về mặt tâm linh đối với người dân.

Gyatso cũng dẫn một câu chuyện dân gian của Tây Tạng để lý giải lý do tại sao Phật giáo khi du nhập vào nước này lại coi vùng đất này như là một nữ quỷ nguy hiểm và xấu xí. Tương truyền, Quan Thế Âm Bồ tát từng tái sinh thành một chú khỉ, sau đó bị một nữ quỷ đá mê hoặc. Đứa con hai người sinh ra chính là người Tây Tạng đầu tiên. Những đặc điểm của người Tây Tạng như hiếu chiến, thích giết chóc, sức vóc to lớn, lòng dũng cảm đều đến từ người tổ mẫu này. Bên cạnh đó, tinh thần mộ đạo, đời sống tinh thần phong phú và lòng từ bi bắt nguồn từ người cha khỉ.

Và cuối cùng, Gyatso kết luận rằng: Srin-mo không phải thần, cũng chẳng phải quỷ, cũng không hẳn tượng trưng cho hình ảnh nữ giới bị đàn áp và không coi trọng tại Tây Tạng. Văn Thành Công chúa và Xích Tôn Hoàng hậu rất được coi trọng tại Tây Tạng là một bằng chứng. Srin-mo đại diện cho đất nước Tây Tạng tiền Phật giáo, với sự thịnh hành của đạo Bon cùng những nghi thức hiến tế điển hình của Shaman giáo, tôn thờ bùa chú và tà thuật, một xã hội nguyên thủy phân tán được văn minh hóa nhờ sự xuất hiện của Phật giáo dưới thời Tán phổ Gampo. Hình ảnh Srin-mo cũng tượng trưng cho sức mạnh nữ giới Tây Tạng khi quyền lực nam giới xuất hiện cùng Phật giáo phải mất công sức mới kìm nén được.

Hoamo Tso (དཔལ་མོ་མཚོ་), nữ học giả và nhà thơ Tây Tạng, đã sử dụng hình ảnh Srin-mo để đánh thức sức mạnh của phái nữ và vận động cho các phong trào nữ quyền tại Tây Tạng. Trong cuốn Sholung (2005), bà viết:

བུད་མེད་ནི་སྲིན་མོ་ཡིན།
སྲིན་མོ་ནི་ཚེ་སྲོག་གི་འབྱུང་ཁུངས་ཡིན།
ཚེ་སྲོག་གི་འབྱུང་ཁུངས་ནི་མཐར་ཐུག་གི་ནང་སྙིང་ཡིན། ​
​Women are srinmo
Srinmo is the source of life
​The source of life is the inner essence of that which is ultimate. 📿

Bài số 3 - Chủ đề Lịch sử ⏳SRIN MO: TRUYỀN THUYẾT VỀ NỮ QUỶ CỔ XƯA CỦA TÂY TẠNG 🧐By Erwin Người Tây Tạng có một niềm tin...
20/04/2024

Bài số 3 - Chủ đề Lịch sử ⏳

SRIN MO: TRUYỀN THUYẾT VỀ NỮ QUỶ CỔ XƯA CỦA TÂY TẠNG 🧐

By Erwin

Người Tây Tạng có một niềm tin rằng lãnh thổ Tây Tạng được hình thành trên cơ thể của một quỷ nữ khổng lồ với tay chân kéo dài đến tận Trung Hoa và Ấn Độ. Truyền thuyết này bắt nguồn từ thế kỷ thứ 7 khi Đạo Phật bắt đầu phát triển mạnh mẽ tại Tây Tạng xung quanh các tôn giáo cổ đại bản địa như đạo Bon vốn chuyên tôn thờ và thực hành các nghi thức bùa chú cổ xưa, thờ phụng và điều khiển các linh hồn.

Songtsen Gampo (618? - 649) (hay được gọi là Tùng Tán Cán Bố) là Tán phổ (tương đương với Vua) đầu tiên của Đế quốc Thổ Phồn và có công thống nhất các bộ tộc người Tạng để thành lập nên một quốc gia thống nhất.

Ông có sáu người vợ tuy nhiên hai nhân vật nổi bật nhất phải kể đến là Xích Tôn Hoàng hậu - Công chúa Nepal Bhrikuti Devi và Tán mông Văn Thành Công chúa nhà Đường. Truyền thuyết về Srin mo cũng bắt nguồn từ mối quan hệ của Tán phổ và hai vị hậu phi này. Xích Tôn Hoàng hậu hay Văn Thành Công chúa đều kết hôn với Tán phổ Gampo với mục đích hòa hảo. Khi về đất Thổ Phồn, hai bà đều được trao rất nhiều của hồi môn có giá trị, hầu hết là các báu vật Phật giáo. Chính vì thế hai người đều có mong muốn sẽ truyền bá văn hóa của quốc mẫu đến với một vùng đất mới và xa lạ.

Hoàng hậu Văn Thành Công chúa có ý tưởng về việc xây một ngôi chùa lớn để thờ bức tượng Thích Ca Mâu Ni Bát Tuế Đẳng Thân (tượng mang hình tướng Đức Phật Thích ca năm 12 tuổi) được Đường Thái Tông ban tặng mà bà mang theo khi di chuyển từ triều đình Đường sang Thổ Phồn làm dâu. Xích Tôn Hoàng hậu cảm thấy quyền lực của mình sẽ bị lung lay nếu việc này thành hiện thực, chính vì thế nên bà quyết định sẽ xây một ngôi đền của mình trước Văn Thành.

Với tài phong thủy tài giỏi, Văn Thành có gợi ý Xích Tôn Hoàng hậu nên xây đền thờ ở vùng đất cạnh hồ trên Cao nguyên Sữa (vùng đất nơi đặt chùa Đại Chiêu - ngôi chùa linh thiêng nhất Tây Tạng sau này). Tuy nhiên điều này chỉ khiến Xích Tôn Hoàng hậu thêm tức giận. Nàng mách với Tán phổ Gampo và được Tán phổ cho phép xây dựng đền ở bất cứ đâu nàng muốn. Sau đó Xích Tôn Hoàng hậu cho xây móng 108 ngôi đền ở Yarlung và nhiều nơi khác nữa trên khắp đất Tạng. Tuy nhiên, ban ngày xây được đến đâu thì đến đêm các công trình lại bị các ác linh bản xứ phá sạch tới đó.

Xích Tôn Hoàng hậu cuối cùng cùng phải xin lời khuyên từ Văn Thành Công chúa. Nàng gửi một tỳ nữ đến để xin Văn Thành chỉ bảo về việc xây đền. Tuy nhiên, tỳ nữ này lại hiểu sai chỉ dẫn của Văn Thành và nói với Xích Tôn Hoàng hậu là nên lấp cái hồ trước. Việc này khiến cho các ác linh càng trở nên tức giận hơn.

Việc xây đền bất thành của Xích Tôn Hoàng hậu và những lời than vãn của nàng khiến Tán phổ Gampo mệt mỏi. Ngài xin lời chỉ dẫn từ tôn tượng gỗ Quán Thế Âm Bồ Tát bằng gỗ được thỉnh từ Ấn Độ và được Bồ tát chỉ ra một điểm để xây đền.

Một số tài liệu cho rằng Tán phổ được Bồ tát chỉ ra rằng mặt đất của Tây Tạng có hình dáng của một nữ quỷ và đất của Tây Tạng đang nằm trên người của nữ quỷ này nên cần có cách để chế ngự nữ quỷ này để giữ cho đất nước được ổn định và nhân dân bớt khổ đau. Tuy nhiên một số tài liệu khác lại cho rằng chính Văn Thành Công chúa là người chỉ ra điểm này cho Tán phổ với con mắt và vốn hiểu biết về phong thủy của bà. Sau đó nhà vua đã cho xây 12 ngôi đền trên khắp Tây Tạng để trấn áp nữ quỷ này.

Việc này được cho là tượng trưng cho việc Tán phổ củng cố nền móng cho sự du nhập của Phật giáo vào Tây Tạng trước sự kháng cự của các tín ngưỡng bản địa được hình tượng hóa bằng những ác linh trong truyền thuyết. (Đạo Bon). Hành động trấn áp nữ quỷ Srin mo là hiện thân cho quá trình khuếch trương quyền lực của Tán phổ Gampo với mỗi ngôi đền là một cứ điểm chính trị quan trọng để tập trung quyền lực về thủ phủ Lhasa, nơi đặt chùa Đại Chiêu, ngôi chùa được xây dựng bởi Xích Tôn Hoàng hậu để trấn yểm trái tim của Nữ quỷ. Văn Thành Công chúa sau này cũng dựng một ngôi chùa là Tiểu Chiêu, ngôi chùa quan trọng thứ 2 trên đất Tạng, chỉ sau chùa Đại Chiêu. Trong chùa Đại Chiêu tôn thờ bức tượng Thích Ca Bát Tuế Đẳng Thân của Văn Thành Công chúa trong khi chùa Tiểu Chiêu tôn thờ bức tượng Báo thân Thích Ca Mâu Ni của Xích Tôn Hoàng hậu. 😄



Bài viết được tham khảo từ các tài liệu sau:

1. Miller, R. J. (1998). “The Supine Demoness” (Srin mo) and The Consolidation of Empire. The Tibet Journal, 23(3), 3–22.

2. Mills, Martin (2007). " Re-Assessing the Supine Demoness: Royal Buddhist Geomancy in the Srong btsan sgam po Mythology". The Tibet Journal, No. 3, 1-47.

Ảnh: (Nền): The Demoness of Tibet; Tibet; late 19th”“early 20th century; Pigments on cloth; Rubin Museum of Art; C2006.1.1 (HAR 65719) / Phía trái: Xích Tôn Hoàng hậu / Phía phải: Văn Thành Công chúa.

Nếu bạn biết thêm gì về truyền thuyết này thì có thể chia sẻ ở phía dưới nhé! 😇 Câu chuyện và các chủ đề về Srin mo sẽ chưa dừng lại tại đây, hãy cùng đón chờ các bài số Lịch sử tiếp theo nhé.

Bài số 2 - Chủ đề Thống kê học 🎚REGRESSION TOWARD THE MEAN: Sự hồi quy về mức trung bình, xu hướng thụt lùi sau những th...
18/04/2024

Bài số 2 - Chủ đề Thống kê học 🎚

REGRESSION TOWARD THE MEAN: Sự hồi quy về mức trung bình, xu hướng thụt lùi sau những thành tích đáng chú ý

Tác giả: Trung Lê

Sự hồi quy về mức trung bình được định nghĩa khi hai biến được đo lường càng ít tương quan thì khả năng xảy ra hiện tượng này càng lớn, giá trị của biến càng cực đoan so với đường trung bình thì càng có nhiều chỗ cho sự thoái lui về mức trung bình. [1]

Biến: đại lượng mô tả giá trị của hiện tượng được quan sát
Đường trung bình: đường nối các giá trị trung bình theo thời gian

Khái niệm được phát triển bởi Francis Galton vào cuối thế kỷ 19. Galton quan sát thấy rằng các đặc điểm cực đoan, ví dụ chiều cao của bố mẹ không được truyền hoàn toàn cho con cái của họ. Ông lưu ý rằng khi trung bình chiều cao của bố mẹ lớn hơn trung bình của dân số, trẻ em có xu hướng thấp hơn so với cha mẹ. Tương tự như vậy, khi chiều cao trung bình của cha mẹ thấp hơn trung bình dân số thì con cái có xu hướng cao hơn cha mẹ chúng. [2]

Theo thời gian khái niệm này cũng được phổ biến tới đại chúng, và cũng đã được đề cập tới trong cuốn sách Tư duy nhanh và chậm của tác giả Daniel Kahneman. Với ví dụ người hướng dẫn phi công lưu ý rằng khi một phi công tập sự được khen ngợi đã hạ cánh tốt, họ luôn thực hiện cú hạ cánh tiếp theo kém. Điều này đã bị hiểu sai là lời khen ngợi đã làm phi công trở nên tự mãn và sao nhãng trong khi lời giải thích thực sự là sự hồi quy về điểm giá trị trung bình trong thành tích hạ cánh. [3]

Vậy ta có thế áp dụng khái niệm này như thế nào để giúp ích cho bản thân?

Nếu ta tiếp cận theo cách khi quan sát kết quả của một biến được góp phần bởi những yếu tố có một xác xuất xảy ra nhất định, thì việc thay đổi trong kết quả của biến được quan sát trong những lần tiếp theo do xác xuất cơ hội xảy ra của những yếu tố góp phần là hoàn toản khả thi, do đó có càng nhiều kết quả của biến được quan sát, càng cho ta một cái nhìn sát với thực tế và tổng quan hơn.

Ví dụ như khi ta không chắc chắn về việc liệu hiệu suất làm việc của chúng ta trong lần tới liệu có được hậu thuẫn từ những yếu tố thuận lợi có khả năng xảy ra như những lần trước đó hay không? Thì sự sa sút sau những thành công vang dội là hoàn toán khả dĩ. Hay như trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, việc hiểu về xu hướng hồi quy về điểm trung bình có thể giúp đỡ để đưa ra những chuẩn đoán và điều trị chính xác hơn. [4]

Và vô vàn các lĩnh vực để giải thích cho sự hồi quy về đường trung bình sau các giá trị cực đoan của các biến được quan sát. Nếu bạn biết thêm gì về hiện tượng và khái niệm này thì có thể chia sẻ ở phía dưới nhé! 😇

1. Bland JM, Altman DG. Regression towards the mean BMJ 1994;308:1499.
Bland JM, Altman DG. Some examples of regression towards the mean.
BMJ 1994;309:780.
2. Galton F. Regression towards mediocrity in hereditary stature. Journal of the Anthropological Institute 1886;15:246-63.
3. Tversky A, Kahneman D. Judgement under uncertainty: heuristics and biases. Science 1974:185:1124-31.
4. Veronica Morton, David J Torgerson Effect of regression to the mean on decision making in health care 2003;326:1083

Ảnh: An 1882 portrait of Galton by Gustav Graef.

BÀI SỐ 1 - Chủ đề Lịch sử BỨC TƯỜNG THAN KHÓC: Biểu tượng quốc gia Israel hay nỗ lực khẳng định mình của Israel trên Đất...
31/03/2024

BÀI SỐ 1 - Chủ đề Lịch sử

BỨC TƯỜNG THAN KHÓC: Biểu tượng quốc gia Israel hay nỗ lực khẳng định mình của Israel trên Đất Thánh? 🧐

Tác giả: Erwin

Bức tường Than Khóc, trong tiếng Anh được gọi là the Wailing Wall hay Le Mur des Lamentations trong tiếng Pháp, được cho là một trong những địa điểm linh thiêng nhất của những người theo Do Thái giáo. Bức tường này nằm ở khu vực phía Tây của Núi Đền, một địa điểm linh thiêng với cả ba tôn giáo lớn là Do Thái giáo, Hồi giáo, và Thiên Chúa giáo.

Bức tường được cho là một phần của Đền Thánh của người Do Thái. Ngôi đền đầu tiên được vua Solomon xây dựng vào thế kỷ thứ 10 TCN và bị phá hủy bởi người Babylon vào thế kỷ thứ 6 TCN. Khi Cyrus Đại đế của Ba Tư chiếm được Jerusalem vào khoảng thế kỷ thứ 5 TCN, người Do Thái được phép trở về đất thánh và ngôi Đền Thánh thứ hai được xây dựng vào thế kỷ thứ 4 trước khi bị phá hủy bởi quân La Mã vào năm 70 sau CN (W. M. Christie).

Mặc dù hiện nay, bức tường này được nhận định là một trong những thánh tích cổ xưa của người Do Thái, người ta vẫn luôn hoài nghi về tính chính xác của tuyên bố này khi cả cộng đồng người Hồi giáo lẫn Thiên Chúa giáo đều tuyên bố bức tường này không có nguồn gốc và không có bất kỳ liên kết gì đối với Do Thái giáo. Trên nền Núi Đền hiện tại đang có hai nhà thờ Hồi giáo quan trọng đều có tuổi đời trên 1000 năm tuổi là Dome of the Rock và Asqa Mosque.

Israel chiếm được Bờ Đông Jerusalem, bao gồm Bức tường Than khóc và Núi Đền sau chiến thắng Chiến tranh Sáu Ngày (Six Days War) trước Ai Cập, Syria và Jordan vào năm 1967. Cuộc chiến diễn ra do căng thẳng leo thang tại bán đảo Sinai và hệ lụy từ việc tàu thuyền của Israel bị cấm lưu thông qua eo biển Tiran. Sau cuộc chiến đó Israel tăng cường và phát triển diễn ngôn Bức tường Tôn giáo không chỉ là một biểu tượng ý nghĩa về tôn giáo mà mang cả ý nghĩa về chính trị.

Từ thế kỷ thứ 14, bức tường này bao quanh khu một quận nơi có những người Hồi giáo gốc Ma Rốc sinh sống và buôn bán. Đến thế kỷ thứ 16, người ta mới tìm được một số tài liệu của những người lữ hành và nhà thám hiểm nói về Jerusalem chứng minh những liên kết đầu tiên của người Do Thái với bức tường. Người Do Thái cho rằng bức tường có liên kết với hiện diện của Chúa Trời. Sau chiến thắng tại Jerusalem vào năm 1967, quân Israel đã san bằng quận Mughrabi tại đây. Hơn 650 cư dân được thông báo họ phải di chuyển và thu gọn hành lý chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Bức tường Than khóc được mở rộng hơn 32 mét (từ 28 mét lên 60 mét) về phía Nam; khu vực hành lang rộng 120 mét vuông phía trước bức tường đã trải rộng ra thành khu vực rộng gần 20,000 mét vuông. Sự phá hủy này được cho là phi pháp, vi phạm nghiêm trọng Hiệp ước Genva, thỏa thuận Status Quo và vướng phải sự phản đối kịch liệt của cộng đồng cư dân Ả Rập. Sự kiện này cũng phá hủy rất nhiều những di tích lịch sử của cộng đồng người Hồi giáo tại đây.

Chính phủ Israel sau đó thực hiện đền bù tuy nhiên chỉ có 41 hộ dân nhận khoản trợ cấp; số còn lại từ chối vì cho đó là hành động công nhận việc làm sai trái của chính phủ Israel. Một số người Ả Rập sống tại quận Mughrabi đã di cư sang Ma Rốc với sự can thiệp của vua Hassan II, số còn lại sinh sống rải rác trong các trại tị nạn. Sau sự kiện này, Israel cũng hạn chế truyền thông về khu vực hành lang Bức tường trước sự kiện năm 1967.

Không có một tài liệu nào chứng minh được quyền sở hữu của người Do Thái đối với Bức tường Than khóc và chủ đề đó vẫn gây tranh cãi đến tận này hôm nay. Tác giả Simone Ricca cho rằng, việc tái thiết một thành phố sau chiếm đóng là một việc bình thường của mọi thế lực cầm quyền. Việc Israel biến Bức tường Than khóc trở thành biểu tượng quốc gia và của Do Thái giáo minh chứng cho nỗ lực kết nối của cộng đồng này đối với Đất Thánh, cho dù phải tẩy trắng cả lịch sử ngàn năm tại nơi này của cộng đồng người Ả Rập.



Tài liệu tham khảo:

1. Christie, W. M. (1931). *The Wailing Wall at Jerusalem*.
2. Jerusalem Center for Public Affairs. (n.d.). The Creation of the Western Wall Plaza in 1967: Was it Necessary and Legal? Retrieved from https://jcpa.org/article/creation-western-wall-plaza-1967-necessary-legal/
3. Ricca, S. (2010). Heritage, Nationalism and the Shifting Symbolism of the Wailing Wall. *Archives de Sciences Sociales des Religions*, 151, 169-188.
4. Cohen-Hattab, Kobi & Bar, Doron. (2018). From Wailing to Rebirth: The Development of the Western Wall as an Israeli National Symbol After the Six-Day War. Contemporary Jewry.

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Erwin from the Stars posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category