21/08/2026
LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI LÀ MỘT BỘ PHẬN CẤU THÀNH NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh, cục diện và mục tiêu mới. Đại hội đã bổ sung và phát triển nhiều nhận thức lý luận mới: tự chủ chiến lược; thể chế phát triển; khoa học, công nghệ là động lực chủ yếu; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất; văn hóa, con người là sức mạnh nội sinh…, trong đó khẳng định lý luận về đường lối đổi mới là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.
Quan điểm chỉ đạo thứ nhất trong Báo cáo chính trị nêu: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”. Với quan điểm này, lần đầu tiên Đảng ta xác định “lý luận về đường lối đổi mới” là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.
Ý nghĩa của việc khẳng định và bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng
Một là, việc bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng là một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử, thể hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và bản lĩnh tự đổi mới của Đảng; cho thấy Đảng không giáo điều, không rập khuôn, mà luôn kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn, làm giàu thêm kho tàng lý luận - tư tưởng của cách mạng Việt Nam.
Hai là, lý luận về đường lối đổi mới là sự vận dụng và phát triển sáng tạo, cụ thể hóa các nguyên tắc, nguyên lý phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam. Điều đó thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; là sự đột phá lý luận cơ bản của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Ba là, lý luận về đường lối đổi mới là tổng thể các quan điểm, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhân dân là trung tâm, là chủ thể; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với ba trụ cột: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, lý luận về đường lối đổi mới trở thành một bộ phận cấu thành của nền tảng tư tưởng, tiếp tục dẫn dắt đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới. Việc bổ sung luận điểm này còn là minh chứng cho sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện, sáng suốt của Đảng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở ra khả năng phát triển năng động, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn và xu thế thời đại; là ngọn đuốc soi đường, tiếp tục dẫn dắt thực hiện thành công khát vọng, tầm nhìn và các định hướng chiến lược, lập nên những kỳ tích phát triển mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới
Thứ nhất, lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam được định hình với 8 đặc trưng cơ bản, phản ánh mục tiêu tổng quát, bản chất và tính ưu việt của chế độ, đó là: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Nhân dân làm chủ; nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp, phải trải qua nhiều giai đoạn với 8 phương hướng cơ bản: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với chế độ sở hữu đa dạng, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao đời sống Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.
Thứ hai, lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một đột phá lý luận cơ bản và sáng tạo của Đảng. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mô hình này vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của thị trường, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.
Thứ ba, lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính tối cao của pháp luật, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là mô hình nhà nước hiện đại, dân chủ, minh bạch, có hiệu lực và hiệu quả, gắn với yêu cầu quản trị quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ tư, lý luận về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và đại đoàn kết toàn dân tộc. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và đại đoàn kết toàn dân tộc là hai trụ cột chính trị - xã hội quan trọng, có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy sức mạnh toàn dân; đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn lực to lớn, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thứ năm, lý luận về phát triển văn hóa, con người, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ. Đảng xác định văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nền tảng phát triển, là sức mạnh nội sinh quan trọng; con người là chủ thể, trung tâm của chiến lược phát triển. Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Khoa học và công nghệ là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thứ sáu, lý luận về quốc phòng, an ninh và đối ngoại, hội nhập quốc tế. Quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ hàng đầu, trọng yếu, thường xuyên, có ý nghĩa sống còn nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối ngoại triển khai theo đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa, Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện trên cơ sở phát huy nội lực, vì mục tiêu cao nhất là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.
Thứ bảy, lý luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là nhiệm vụ then chốt, có vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật phát triển của Đảng, bảo đảm Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo toàn diện đất nước. Đây là yếu tố quyết định để giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.