TT Đào Tạo & Nghiên Cứu Ứng Dụng Lịch Sử Văn Hóa

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • TT Đào Tạo & Nghiên Cứu Ứng Dụng Lịch Sử Văn Hóa

TT Đào Tạo & Nghiên Cứu Ứng Dụng Lịch Sử Văn Hóa Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng các giá trị lịch sử văn hóa vào đời sống đương đại

Khâm định Việt sử thông giám cương mục (từ đây viết tắt là Cương mục), (tập 1 trang 740), chép rằng năm Kỷ Hợi (1419), g...
06/07/2026

Khâm định Việt sử thông giám cương mục (từ đây viết tắt là Cương mục), (tập 1 trang 740), chép rằng năm Kỷ Hợi (1419), giặc Minh sai đem "các sự tích và sử sách của nước ta từ đời Trần trở về trước đều tịch thu đưa về Kim Lăng".
Theo ghi nhận của Lịch triều hiến chương loại chí (từ đây viết tắt là Loại chí), (tập 2 trang 524, 532), ngoài các tập thơ văn thì người Minh còn tịch thu một số sách sử và sách văn hóa của Đại Việt, có thể kể tới các bộ sử như Đại Việt sử ký (từ đây viết tắt là Sử ký) của Lê Văn Hưu, Việt Nam thế chí và Việt sử cương mục của Hồ Tông Thốc.
Nhưng có một vấn đề được đặt ra là, nếu người Minh mang các bộ sách đó về Kim Lăng, thì hẳn chúng phải tồn tại ở Kim Lăng hoặc đâu đó, chứ không lẽ nào lại biến mất theo dòng lịch sử mà chẳng ai hay biết. So sánh với trường hợp bộ sử (khuyết danh) Đại Việt sử lược được đưa vào khai thác vài chục năm gần đây, bộ sử này được tìm thấy trong Tứ khố toàn thư, do Tiền Hi Tộ (đời Thanh) hiệu đính và khắc in.
Nhưng họ Tiền không phải người đầu tiên ở Trung Quốc biết tới văn bản này, mà ngay từ thời nhà Minh, Đại Việt sử lược đã được ghi nhận trong Văn Uyên các thư mục, trong khi đó, các bộ thi văn sử được Loại chí liệt kê lại không hề được nhắc tới.
Phải chăng không hề có chuyện người Minh đem sách của ta về Kim Lăng lưu trữ, mà đã một mồi lửa đem thiêu sạch sẽ?

Đất linh sinh hào kiệt Bạch Đằng nơi hội tụ sức mạnh dt hào khí Đông A chảy nối vô tận tới các thế hệ, các thời đại. Dư ...
04/07/2026

Đất linh sinh hào kiệt Bạch Đằng nơi hội tụ sức mạnh dt hào khí Đông A chảy nối vô tận tới các thế hệ, các thời đại.
Dư ba hào khí BẠCH ĐẰNG, mạch ngầm truyền thống bất khuất lại 1 lần nữa dậy sóng nhấn chìm mọi thế lực ngoại xâm mạnh nhất TG làm nên chiến thắng lẫy lừng TK20 mở ra thời đại HCM, đất bước tự hào đón nhận những vận hội mới.
Người Anh Hùng giải phóng dân tộc, danh nhân Văn hóa thế giới: Bác Hồ - gần gũi mà vĩ đại đang mỉm cười hiền hòa trong ngôi đền thiêng liêng giữa quần thể di tích, danh thắng Tràng Kênh.
Truyền thống BẠCH ĐẰNG chưa khi nào ngừng dào dạt và sẽ mãi đc kế thừa nâng cao ở mỗi 1 thời đại mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 khi từ nước ngoài về chỉ đạo cách mạng Việt Nam, cụ viết cuốn lịch sử nước ta để huy động lực lượng làm nên CMT8 vĩ đại có câu: “Mênh mông 1 dải bạch đằng, nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh” – đây là nơi hội tụ cao nhất sự đoàn kết, ý chí, truyền thống yêu nc, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, lãnh thổ dân tộc ta, cái làm nên kỳ tích trong ls của dân tộc Việt Nam.

Có những thứ mất đi không phải vì thời gian, mà vì chúng ta dần quên mất sự tồn tại của nó…Hà Nội xưa có rất nhiều cửa Ô...
22/06/2026

Có những thứ mất đi không phải vì thời gian, mà vì chúng ta dần quên mất sự tồn tại của nó…

Hà Nội xưa có rất nhiều cửa Ô. Mỗi cửa Ô là một lối vào kinh thành, là nơi tiễn người đi, đón người về, chứng kiến biết bao cuộc chia ly và đoàn tụ suốt hàng trăm năm.

Những đoàn quân ra trận từng đi qua đó.
Những gánh hàng rong từ các làng quê từng bước qua đó.
Những người con xa xứ trở về cũng từng nhìn thấy mái cổng thân quen ấy trước khi về đến nhà.

Trải qua chiến tranh, đô thị hóa và những biến động của lịch sử, phần lớn các cửa Ô đã lùi vào ký ức.

Ngày nay, Hà Nội chỉ còn lại 5 cái tên quen thuộc:
Ô Quan Chưởng,
Ô Cầu Dền,
Ô Đông Mác,
Ô Chợ Dừa,
Ô Cầu Giấy.

Dù nhiều nơi chỉ còn là tên gọi trên bản đồ hay trong ký ức người già, nhưng mỗi lần nhắc đến, ta như thấy lại một Hà Nội rất khác:
Chậm hơn, trầm hơn, và đầy những câu chuyện chưa bao giờ cũ.

Có người nói Hà Nội là những con phố.
Có người nói Hà Nội là Hồ Gươm, là Hồ Tây.

Còn với tôi, Hà Nội là những cửa Ô.

Bởi đó là nơi lưu giữ dấu chân của cha ông, là chứng nhân lặng lẽ của bao thăng trầm đất kinh kỳ.

Để rồi một ngày nhìn lại tấm bản đồ cũ này, ta mới chợt nhận ra:
Có những thứ tưởng đã mất, nhưng vẫn sống mãi trong ký ức của một thành phố ngàn năm tuổi…

Những nhà nghiên cứu phương Tây đã từng thực nghiệm đưa chiếc bè tre Việt Nam lênh đênh 5.500 dặm vượt Thái Bình Dương, ...
21/06/2026

Những nhà nghiên cứu phương Tây đã từng thực nghiệm đưa chiếc bè tre Việt Nam lênh đênh 5.500 dặm vượt Thái Bình Dương, cho thấy sức chống chịu phi thường của thứ vật liệu tưởng chừng mỏng manh.

Kỹ thuật ghép mộng từ thời Đông Sơn

Một trong những bằng chứng sớm nhất về nghề đóng thuyền Việt Nam được tìm thấy trên các con thuyền cổ thời Đông Sơn.

Để ghép các ván thuyền với nhau, người thợ thời Đông Sơn dùng chốt gỗ chữ nhật, rồi lại dùng 4 chốt trụ tròn nhỏ xuyên qua chốt và ván để khóa chặt theo chiều ngang.

Dấu tích của mộng và chốt gỗ để ghép ván thuyền cổ hai thân ở Thuận Thành, Bắc Ninh.
Đây là kĩ thuật có truyền thống lâu đời ở Việt Nam, đã được quan sát thấy trong các thuyền cổ thời Đông Sơn ở Động Xá (kết quả giám định Carbon-14 cho thấy niên đại là từ khoảng thế kỷ 2 TCN đến thế kỷ 1 SCN) và thuyền cổ hai thân ở Thuận Thành, Bắc Ninh.

Điều thú vị là kiểu chốt như vậy rất phổ dụng ở truyền thống hàng hải Địa Trung Hải thời La Mã, trước khi chuyển sang dùng đinh kim loại [1]. Ở phương Tây, nó được định danh là "mối ghép Phoenician" theo tên của dân tộc Phoenician đi biển lừng tiếng.

Vì sao lại có sự tương đồng giữa cách đóng thuyền Việt Nam và Địa Trung Hải cổ đại như vậy? Hiện nay chưa thể khẳng định đáp án, nhưng theo chuyên gia khảo cổ Nguyễn Việt, đó là phát minh độc lập, chứ không nhất thiết phải là du nhập từ tận Địa Trung Hải. Dân cư ở những khu vực địa lý khác nhau có thể tự sáng tạo ra những phát minh giải quyết nhu cầu của mình trong quá trình sống và vô tình khớp nhau trong dòng chảy
Trên mép ván, một hàng lỗ được đục để nhét các chốt gỗ chữ nhật (màu đỏ), cố định vào ván theo phương ngang bằng 4 chốt trụ tròn (màu xanh).
Việc sử dụng kiểu chốt chữ nhật cho thấy truyền thống đóng thuyền Việt Nam có một dòng chảy có tính kế thừa lâu đời và độc đáo, không phải chỉ là sự sao chép và lai ghép của các truyền thống Trung Hoa và Đông Nam Á như nhiều nhà quan sát phương Tây đầu thế kỷ 20 nhận định.

Một số bạn đọc sẽ đặt câu hỏi "kỹ thuật ghép mộng đóng thuyền của Việt Nam khác thế nào với mộng của Trung Quốc". Theo hiểu biết của chúng tôi, Trung Quốc sử dụng kỹ thuật mộng chủ yếu trong nội thất, xây dựng. Tuy nhiên với đóng thuyền thì họ đóng đinh, từ đời Chu (1046–771 TCN) đã dùng đinh đồng, đến thời Tần Hán (221 TCN-220 SCN) thì dùng đinh sắt.

Thuyền bọc đồng thời đầu Bắc thuộc

Nhiều người biết đến kỹ thuật bọc đồng đáy tàu của hải quân Nguyễn thế kỷ XIX. Người Anh đến năm 1858 đã thử nghiệm việc bọc một lớp đồng thật mỏng ra ngoài vỏ gỗ, ở phần hoàn toàn chìm dưới mực nước, còn phần thân thuyền nhô lên khỏi mặt nước thì không bọc. Các loài ký sinh biển không thể ăn kim loại, nhờ vậy vỏ thuyền không cần phải thay thế và bảo dưỡng liên tục. Khi các vua Gia Long và Minh Mạng tiếp thu tri thức hàng hải của phương Tây, biện pháp này được đưa vào hải quân nước ta.

Nhưng ít ai biết rằng, các thư tịch Trung Quốc lại ghi nhận sự xuất hiện của những "thuyền đồng" ở vùng Giao Châu (tên nhà Hán gọi nước ta) trước người Anh ít nhất 1500 năm: "[...] trong sông có thuyền đồng Việt vương đúc, khi nước triều trên sông rút, có người trông thấy được" [2], "Người Việt đúc đồng làm thuyền, khi nước sông hồ rút đi có thể thấy" [3]

Lĩnh biểu lục dị thế kỷ 9 chép rằng, những con thuyền đồng vẫn xuất hiện thường xuyên trên tuyến buôn bán đường biển giữa Quảng Châu và An Nam: "mỗi năm, Quảng Châu thường phát thuyền đồng sang An Nam giao dịch hàng hoá, con đường đi qua Điều Lê" (tên nhà Đường gọi nước ta) [4].

Đồng là kim loại rất nặng, mềm, lại đắt đỏ. Chế tạo nguyên một thân thuyền hoàn toàn bằng đồng có rất nhiều bất cập. Chúng tôi cho rằng những con thuyền đồng của người Việt cổ chỉ dát một lớp đồng mỏng bên ngoài vỏ gỗ, xuất phát từ nhu cầu chống hàu hà đục gỗ rất nhức nhối ở vùng biển nhiệt đới.

Thuyền thời Nguyễn bọc các tấm đồng ra ngoài đáy gỗ để chống hàu, hà đục gỗ.
Nếu không có biện pháp bọc đồng như vậy, vỏ thuyền có thể bị ăn ruỗng rất nhanh, ván đáy thuyền cần được thay thế thường xuyên. Ngày nay, các ghe Bầu lớn ở Nha Trang vẫn cần phải thay ván bốn năm một lần và thường xuyên cạo vỏ để loại bỏ các loài sâu biển.

Nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Joseph Needham nhận định: "Nếu vậy, những thuyền mành có đáy bọc đồng thoát thai từ truyền thống bản địa chứ không phải từ hồ Nemi của phương Tây" [5].

Có lẽ từ thời Trần, Hồ trở đi, do tình trạng khan hiếm đồng, thuyền bọc đồng đã biến mất. Trùng hợp, ta biết rằng thời Hồ Hán Thương (1401-1407) bắt đầu sử dụng thuyền đóng đinh sắt thay vì khâu ván bằng sợi thực vật. Đinh sắt sẽ bị gỉ do phản ứng điện ly khi tiếp xúc với vỏ đồng trong môi trường nước biển, nên theo lý, nếu bỏ bọc đồng thì mới có thể đóng đinh sắt.

Sau đó đến thời Nguyễn, nhà Nguyễn lại phải tái du nhập đáy bọc đồng từ phương Tây.

Thuyền đáy đan nan thời Lê Trung Hưng

Nếu phải chọn một kiểu thuyền mang đậm dấu ấn Việt Nam nhất, đó có lẽ là thuyền đáy đan nan.

Thuyền đáy đan nan là một họ thuyền gồm từ nhỏ như Thuyền Thúng cho đến lớn như Thuyền Giã. Các nước Trung Hoa và Đông Nam Á khác đều không thấy kiểu thuyền này, chứng tỏ đây là một phát minh độc đáo của người Việt.

Nhà hàng hải người Pháp J. B. Pietri cho biết về hiệu quả chống sâu, hà của đáy nan tre: "từ lâu người đi biển Việt Nam đã tập trung tìm ra một loại vỏ thuyền có thể chống lại sự tấn công của loài "sâu biển" này... với tính sáng tạo cao, người ta đã tìm được một loại cây chỉ có ở Việt Nam, ít tốn kém, khá nhẹ và đồng thời có thể chống đỡ với con hà, đó là cây tre..." [6]

Không chỉ vậy, thuyền đáy nan còn chịu lực tốt hơn thuyền vỏ gỗ trong khi giá thành rẻ hơn nhiều: "Khi ủi bãi, tàu thuyền cần có vỏ dẻo dai, chịu được những cú va chạm, có thể phân bổ rộng rãi các biến dạng ngang, tức là giống như một trái bóng cao su. Phần vỏ thuyền ngâm nước, nhờ rẻ tiền nên có thể thay thế thường xuyên trong khi phần trên khô cứng cáp có thể dùng suốt đời".

Mô hình thuyền đáy đan nan Nam Trung Bộ ("ghe nang") thời Nguyễn, hiện trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học.
Như vậy, với vật liệu sẵn có là cây tre, cha ông ta đã khéo léo sáng tạo ra kiểu thuyền độc đáo, đặc trưng Việt Nam, với chi phí thấp, độ bền cao mà vẫn có tải trọng lớn và đi được rất xa. Đến thế kỷ 21, kể cả khi tàu vỏ sắt đã vượt trội về mọi mặt, thuyền đáy đan nan vẫn còn sống mãnh liệt trên các bãi biển miền Trung Việt Nam.

Tưởng chừng như ọp ẹp, những chiếc thuyền đáy đan lớn lại có thể chịu đựng được sóng gió trên những hải trình dài. Đầu thế kỷ 19, học giả nhà Thanh là Thái Đình Lan đã từng viết về những thuyền như vậy tải trọng tới hai vạn "cân" (khoảng mười hai tấn) du hành đến Đài Loan. [7]

Thậm chí thuyền trưởng người Mỹ John White cùng giai đoạn đó còn quan sát rất kĩ một chiếc thuyền có đáy đan nan với tải trọng hơn 50 tấn ngoài biển Cần Giờ [8]. Để so sánh, tải trọng đó tương đương với con tàu Nina và Pinta trong hải đội mà Christopher Columbus chỉ huy để đến được châu Mỹ.

Đại chử thuyền có đáy đan nan, tranh vẽ của Louis Audemard trong sách Boats of Indochina
"Đại chử thuyền" có đáy đan nan, tranh vẽ của Louis Audemard.
Điều này cho thấy kỹ thuật đóng tàu này của Việt Nam đã vượt xa phạm vi sông ngòi và đi biển ven bờ. Những chiếc thuyền đáy đan không chỉ phục vụ đánh cá hay vận tải nội địa mà còn đủ khả năng tham gia mạng lưới giao thương khu vực.

Cũng ít người Việt biết rằng, những năm 1990, một thử nghiệm của Tim Severin, đưa chiếc bè tre Việt Nam không một mối nối sắt thép, lênh đênh trên biển 5.500 dặm vượt Thái Bình Dương để chứng minh cho giả thiết người Việt cổ đã dùng bè tre đi biển, cho thấy sức chống chịu phi thường của thứ vật liệu tưởng chừng mỏng manh. Nguyen Ngoc Phuong D**g.

Vì sao chúa Trịnh nắm thực quyền hơn 200 năm mà không cướp ngôi nhà Lê ?Suốt hơn hai thế kỷ, các chúa Trịnh điều hành đấ...
12/06/2026

Vì sao chúa Trịnh nắm thực quyền hơn 200 năm mà không cướp ngôi nhà Lê ?
Suốt hơn hai thế kỷ, các chúa Trịnh điều hành đất nước, chỉ huy quân đội và quyết định mọi việc lớn nhỏ, nhưng ngai vàng vẫn thuộc về nhà Lê.
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, hiếm có mô hình quyền lực nào đặc biệt như thời kỳ “vua Lê – chúa Trịnh”. Từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, các chúa Trịnh nắm gần như toàn bộ thực quyền ở Đàng Ngoài. Họ kiểm soát quân đội, tài chính, ngoại giao, bổ nhiệm quan lại và quyết định các chính sách quan trọng của quốc gia. Trong khi đó, các vua Lê chủ yếu giữ vai trò tượng trưng. Thế nhưng, điều khiến nhiều người thắc mắc là tại sao các chúa Trịnh, dù đủ mạnh để thay đổi triều đại, lại không chính thức cướp ngôi nhà Lê như nhiều thế lực nhiếp chính khác trong lịch sử? Câu trả lời nằm ở sự kết hợp giữa yếu tố chính trị, tư tưởng, lợi ích quyền lực và hoàn cảnh lịch sử đặc thù của Đại Việt thời bấy giờ.
Nắm thực quyền nhưng không phải gánh toàn bộ trách nhiệm
Để hiểu được vấn đề này, cần nhìn lại nguồn gốc quyền lực của họ Trịnh. Sau khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê năm 1527, nhiều trung thần nhà Lê đã đứng lên chống đối. Trong số đó, Nguyễn Kim là người khởi xướng phong trào phục hưng nhà Lê. Sau khi Nguyễn Kim qua đời, quyền chỉ huy lực lượng chống Mạc rơi vào tay con rể ông là Trịnh Kiểm. Từ thời điểm ấy, họ Trịnh trở thành lực lượng quân sự chủ chốt bảo vệ nhà Lê.
Chính vì quyền lực của họ Trịnh được xây dựng dưới danh nghĩa “phù Lê diệt Mạc”, nên tính chính danh của họ gắn chặt với triều Lê. Nếu một ngày họ Trịnh lật đổ nhà Lê để tự lập triều đại mới, họ sẽ tự phủ nhận lý do tồn tại và cơ sở chính trị đã giúp mình tập hợp lực lượng trong nhiều thập niên. Điều này khác hoàn toàn với trường hợp của nhà Mạc trước đó, vốn đã bị nhiều sĩ phu xem là “nghịch thần soán vị”.
Yếu tố thứ hai đến từ tư tưởng chính trị Nho giáo. Trong xã hội phong kiến Đông Á, tính chính danh có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhà Lê được xem là triều đại chính thống đã tồn tại từ đầu thế kỷ XV, gắn liền với chiến công của vua Lê Thái Tổ trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Hình ảnh nhà Lê có vị trí đặc biệt trong tâm thức giới quan lại và tầng lớp trí thức.
Di tích Phủ Trịnh - nơi từng là hành dinh của các chúa Trịnh ở quê nhà Thanh Hóa. Ảnh : Quốc Lê.
Các chúa Trịnh hiểu rằng việc giữ lại vua Lê sẽ giúp họ dễ dàng nhận được sự ủng hộ của tầng lớp sĩ phu. Nếu họ cướp ngôi, rất có thể sẽ xuất hiện làn sóng phản đối từ chính những người đang phục vụ trong bộ máy nhà nước. Trong điều kiện xã hội chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, việc duy trì một vị vua chính thống trên danh nghĩa là cách hiệu quả nhất để bảo đảm sự ổn định chính trị.
Quan trọng hơn, mô hình vua Lê – chúa Trịnh thực chất mang lại cho họ Trịnh nhiều lợi ích hơn là việc trực tiếp xưng đế. Các chúa Trịnh nắm mọi quyền lực thực tế nhưng lại không phải gánh toàn bộ trách nhiệm biểu tượng của một vị hoàng đế. Mọi sắc lệnh đều nhân danh vua Lê, trong khi phủ chúa mới là nơi đưa ra quyết định.
Đây là một cơ chế rất đặc biệt. Nhà Lê cung cấp tính chính danh, còn họ Trịnh kiểm soát quyền lực. Hai yếu tố ấy bổ sung cho nhau, tạo nên một mô hình chính trị tương đối bền vững. Nếu chúa Trịnh cướp ngôi, họ sẽ phải đối mặt với những câu hỏi về tính hợp pháp của triều đại mới, đồng thời có nguy cơ kích động các cuộc nổi dậy nhân danh “phục Lê”.
Lịch sử cho thấy nỗi lo ấy hoàn toàn có cơ sở. Ngay cả khi các vua Lê chỉ còn quyền lực tượng trưng, lòng trung thành của nhiều tầng lớp xã hội đối với triều Lê vẫn rất sâu sắc. Trong nhiều cuộc khởi nghĩa cuối thế kỷ XVIII, danh nghĩa “phù Lê” vẫn được sử dụng để tập hợp lực lượng. Điều đó cho thấy uy tín của nhà Lê chưa bao giờ hoàn toàn biến mất.
Duy trì hình ảnh người bảo vệ triều đình trước họ Nguyễn
Một nguyên nhân quan trọng khác là sự tồn tại của thế lực họ Nguyễn ở phương Nam. Từ đầu thế kỷ XVII, đất nước bước vào thời kỳ phân tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài nhiều thập niên. Trong bối cảnh đó, các chúa Trịnh cần duy trì hình ảnh người bảo vệ triều đình chính thống để khẳng định vị thế trước đối thủ.
Nếu họ Trịnh tự lập triều đại mới, họ Nguyễn có thể tận dụng cơ hội này để tự nhận mình là lực lượng trung thành với nhà Lê và tranh thủ sự ủng hộ của các sĩ phu. Vì vậy, việc tiếp tục duy trì nhà Lê cũng là một chiến lược nhằm củng cố tính chính danh trong cuộc cạnh tranh với Đàng Trong.
Bên cạnh đó, các chúa Trịnh cũng từng chứng kiến bài học từ nhà Mạc. Mặc dù nhà Mạc có nhiều đóng góp cho đất nước, nhưng việc cướp ngôi nhà Lê đã khiến họ phải đối mặt với sự chống đối kéo dài hàng chục năm. Đối với họ Trịnh, đó là một tiền lệ cần tránh. Họ hiểu rằng nắm thực quyền mà vẫn giữ được danh nghĩa chính thống là phương án an toàn hơn nhiều so với việc thay đổi triều đại.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh luôn hòa thuận. Trong suốt hơn hai thế kỷ, không ít vị vua Lê đã tìm cách giành lại quyền lực. Một số người bí mật liên kết với các thế lực chống đối hoặc tìm cách hạn chế ảnh hưởng của phủ chúa. Đáp lại, các chúa Trịnh thường kiểm soát chặt chẽ hoàng cung, thậm chí phế lập hoặc buộc vua thoái vị khi cần thiết.
Dẫu vậy, họ vẫn không bước thêm bước cuối cùng là chiếm lấy ngai vàng. Đối với các chúa Trịnh, quyền lực thực tế mới là điều quan trọng nhất. Danh hiệu hoàng đế có thể mang lại vinh quang, nhưng cũng kéo theo nhiều rủi ro chính trị. Trong khi đó, mô hình vua Lê – chúa Trịnh đã chứng minh hiệu quả trong việc duy trì quyền lực lâu dài.
Chỉ đến khi phong trào Tây Sơn bùng nổ vào cuối thế kỷ XVIII, trật tự ấy mới sụp đổ. Năm 1786, quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà, chính quyền chúa Trịnh bị đánh đổ. Không lâu sau đó, nhà Lê cũng đi đến hồi kết. Mô hình tồn tại hơn 200 năm chấm dứt, khép lại một chương đặc biệt trong lịch sử Việt Nam.
Nhìn lại toàn bộ giai đoạn này, có thể thấy việc các chúa Trịnh không cướp ngôi nhà Lê không phải do thiếu khả năng hay cơ hội. Ngược lại, đó là một lựa chọn chính trị đầy tính toán. Bằng cách duy trì nhà Lê như biểu tượng chính thống trong khi nắm giữ quyền lực thực tế, họ Trịnh đã xây dựng được một cơ chế cai trị ổn định hiếm có trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Chính sự kết hợp giữa quyền lực và tính chính danh ấy đã giúp các chúa Trịnh duy trì vị thế của mình suốt hơn hai thế kỷ.
Tài liệu tham khảo :
Đại Việt sử ký toàn thư / Ngô Sĩ Liên.Khâm định Việt sử Thông giám cương mục / Quốc sử quán triều Nguyễn.
Việt Nam sử lược / Trần Trọng Kim.
Nguồn ảnh 3D: Hong Quan Cand
Phỏng dựng: Dũng Ninh
"Phủ Chúa Trịnh. Tương ứng các phố Tràng Thi, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Thợ Nhuộm, Quang Trung và Bà Triệu."

Theo bạn là chữ gì?Hãy cho xin ý kiến ở bình luận nhé!
09/06/2026

Theo bạn là chữ gì?
Hãy cho xin ý kiến ở bình luận nhé!

Trong thời kỳ cận hiện đại, những nỗ lực của Việt Nam về cập nhật và chế tạo hoả khí chủ yếu là ở cấp độ kỹ thuật, công ...
07/06/2026

Trong thời kỳ cận hiện đại, những nỗ lực của Việt Nam về cập nhật và chế tạo hoả khí chủ yếu là ở cấp độ kỹ thuật, công nghệ thủ công. Nhưng ở phương Tây, theo thời gian đã xây dựng được nền khoa học tiền hiện đại và đặt nền móng cho công nghiệp quốc phòng.
Vì sao hoả khí Việt Nam dần tụt hậu dưới triều Nguyễn?

Trăm họ tri ơn, hậu thế tưởng nhớ tận tâm trùng tu tôn tạo lưu giữ khu di tích BẠCH ĐẰNG không chỉ có ý nghĩa ls đơn thu...
06/06/2026

Trăm họ tri ơn, hậu thế tưởng nhớ tận tâm trùng tu tôn tạo lưu giữ khu di tích BẠCH ĐẰNG không chỉ có ý nghĩa ls đơn thuần là bảo tồn gìn giữ các giá trị vhls hào hùng của di tích có còn có ý nghĩa giáo giục truyền thống cả trước mắt và rất lâu dài.
Điều đó 1 lần nữa khẳng định các Anh hùng dân tộc đã đi vào tâm thức sâu sa của các thế hệ người dân nơi đây vượt qua mọi biến chuyển của thời gian, họ trân trọng quá khứ và trân quý chiến tích lịch sử.

Văn Thánh Huế (còn gọi là Văn Miếu Huế)Dưới triều nhà Nguyễn, Văn Miếu của cả triều đại và cũng là của toàn quốc được ch...
12/05/2026

Văn Thánh Huế (còn gọi là Văn Miếu Huế)
Dưới triều nhà Nguyễn, Văn Miếu của cả triều đại và cũng là của toàn quốc được chính thức xây dựng vào năm 1808 dưới triều vua Gia Long. Miếu được xây dựng uy nghi đồ sộ, nằm bên bờ sông Hương, thuộc địa phận thôn An Bình, làng An Ninh, phía Tây Kinh thành Huế. Văn Miếu Huế hay Văn Thánh Huế là cách gọi tắt của Văn Thánh Miếu được xây dựng tại Huế.

Việc xây dựng Văn Miếu được tiến hành từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 18 tháng 9 năm 1808, vua Gia Long ra lệnh làm các đồ tự khí mới để thờ, thay thế các đồ cũ và tượng thánh hiền được thay bằng bài vị.
Suốt thời Gia Long trị vì, triều đình nhà Nguyễn chỉ mở các khoa thi hương nên không có tấm bia tiến sĩ nào được dựng ở Văn Miếu. Đến thời Minh Mạng mới mở các khoa thi hội, nên bia tiến sĩ cũng bắt đầu được dựng. Các "tiến sĩ đề danh bi" được lần lượt dựng lên ở sân Văn Miếu từ năm 1831 đến năm 1919, năm có khoa thi Hội cuối cùng dưới thời vua Khải Định.
Văn Miếu Huế đã được tu sửa, làm mới một số đồ thờ và xây dựng thêm một số công trình phụ vào các năm 1818 (thời Gia Long); 1820, 1822, 1830, 1840 (thời Minh Mạng); 1895, 1903 (thời Thành Thái). Đến năm 1947, khi quân đội Pháp tái chiếm Huế và đồn trú tại đây đã gây thiệt hại cho di tích này. Lúc đó, các bài vị thờ ở Văn Thánh được đưa về bảo quản tại chùa Thiên Mụ
(Wikipedia)

Bức ảnh của Camille Paris chụp năm 1892 là một tư liệu vô giá, mở ra một cửa sổ thời gian đưa chúng ta trở về với diện m...
02/05/2026

Bức ảnh của Camille Paris chụp năm 1892 là một tư liệu vô giá, mở ra một cửa sổ thời gian đưa chúng ta trở về với diện mạo nguyên sơ của Hồ Gươm cuối thế kỷ XIX – thời điểm mà dấu ấn của một làng quê Việt Nam vẫn còn đậm nét hơn là một không gian đô thị.
▫️ Trong ảnh, cầu Thê Húc hiện lên với vẻ thanh mảnh, thô mộc bằng gỗ, chưa có những đường cong rực rỡ và thành cầu sơn đỏ cầu kỳ như ngày nay.
▫️ Bức ảnh toát lên vẻ tĩnh lặng, yên bình. Nó cho thấy Hồ Gươm lúc bấy giờ vẫn là trung tâm sinh hoạt đời thường của người dân địa phương hơn là một thắng cảnh du lịch. Mặt nước phẳng lặng soi bóng những rặng tre, bụi chuối – những hình ảnh đặc trưng của nông thôn Bắc Bộ ngay giữa lòng Hà Nội.
▫️ Camille Paris (1856–1908) không chỉ là một nhân viên ngành bưu điện và điện báo của thực dân Pháp, mà ông còn được biết đến như một nhà khảo cổ học và nhà thám hiểm tài năng.
▫️ Ông là người có công lớn trong việc phát hiện ra di tích Thánh địa Mỹ Sơn vào năm 1898.
▫️ Khác với nhiều người Pháp đến Việt Nam thời đó với tư thế kẻ đi xâm lược, Camille Paris dành một tình yêu đặc biệt cho văn hóa và vùng đất này. Những bức ảnh ông chụp luôn mang một nhãn quan nhân văn, trân trọng những giá trị bản địa và vẻ đẹp tự nhiên.
▫️ Các tác phẩm nhiếp ảnh và nghiên cứu của ông đã cung cấp cho hậu thế cái nhìn chi tiết về cảnh quan, kiến trúc và đời sống xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển giao lịch sử.
▫️ Để có được một Hồ Gươm "trái tim của thủ đô" như ngày nay, khu vực này đã trải qua những cuộc chỉnh trang đô thị quy mô lớn bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX:
▫️ Người Pháp bắt đầu quy hoạch lại khu vực quanh hồ. Họ lấp các vùng đầm lầy, thu hẹp diện tích hồ để xây dựng các con đường bao quanh (như đường Paul Bert, nay là phố Tràng Tiền - Hàng Khay).
▫️ Các công trình như đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, tháp Bút được giữ lại nhưng được trùng tu nhiều lần. Cầu Thê Húc từ một cây cầu gỗ đơn sơ trong ảnh của Camille Paris đã được xây dựng lại kiên cố hơn, với màu đỏ đặc trưng tượng trưng cho ánh mặt trời của phương Đông.
▫️ Các rặng tre, bụi chuối và những ngôi nhà lá lụp xụp ven hồ dần bị thay thế bằng những bãi cỏ dốc, vườn hoa, hàng cây xanh và các tòa nhà mang kiến trúc Pháp (như Tòa Thị chính, Bưu điện Bờ Hồ).
▫️ Hồ Gươm trở thành không gian công cộng biểu tượng. Những năm gần đây, việc hạ ngầm dây điện, lát lại đá vỉa hè bằng đá tự nhiên và tổ chức phố đi bộ đã giúp Hồ Gươm vừa giữ được nét cổ kính, vừa mang hơi thở của một đô thị hiện đại, văn minh.

Address

BT F03 Embassy Garden, Đường Xuân Tảo, Phường Xuân Đỉnh
Hanoi
11900

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TT Đào Tạo & Nghiên Cứu Ứng Dụng Lịch Sử Văn Hóa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share