Hội An Tây 24h

Hội An Tây 24h Cập nhật tin tức, sự kiện và văn hoá Hội An chính xác nhất

22/08/2026
21/08/2026

CÔNG AN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG - ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế

Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.

Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.

Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.

Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.

Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực

Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.

Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.

Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.






17/08/2026
https://nhandan.vn/trung-doan-ra-da-290-gianh-giai-nhat-hoi-thao-chi-huy-tham-muu-cap-quan-chung-phong-khong-khong-quan-...
17/08/2026

https://nhandan.vn/trung-doan-ra-da-290-gianh-giai-nhat-hoi-thao-chi-huy-tham-muu-cap-quan-chung-phong-khong-khong-quan-post980119.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo&fbclid=IwdGRjcAThL41wZG9mB

Từ ngày 3-6/8, Quân chủng Phòng không-không quân tổ chức diễn tập, hội thao chỉ huy-tham mưu có một phần thực binh kíp chiến đấu sở chỉ huy trung đoàn ra-đa năm 2026. Kíp chiến đấu Sở chỉ huy Trung đoàn Ra-đa 290 (Sư đoàn 375) hoàn thành ...

12/08/2026
12/08/2026

NGHỊ QUYẾT SỐ 19-NQ/TW: TỪ TƯ DUY ĐỘT PHÁ VỀ
MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN ĐẾN THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Trong bối cảnh mới, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt, hướng tới kiến tạo mô hình phát triển mới, dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu, con người, văn hóa và năng lực quản trị quốc gia. Thực tiễn Đà Nẵng cho thấy nhiều nội dung của Nghị quyết đã và đang được Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố triển khai đúng hướng.

Từ “đổi mới mô hình tăng trưởng” đến “đổi mới mô hình phát triển”

Điểm rất mới của Nghị quyết đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển thay vì mô hình tăng trưởng như trước. Nghị quyết đã xác lập bảy mô hình thành phần gồm: kinh tế; xã hội; văn hóa và con người; môi trường sinh thái; quốc phòng, an ninh; đối ngoại và hội nhập quốc tế; quản trị quốc gia. Như vậy, bên cạnh việc trả lời câu hỏi nền kinh tế tăng trưởng bằng nguồn lực nào, theo phương thức nào và với hiệu quả ra sao, mô hình phát triển phải giải được bài toán của thời đại: Việt Nam muốn trở thành quốc gia như thế nào; con người, thể chế, khoa học, công nghệ, văn hóa và môi trường được đặt ở đâu và quan trọng nhất, thành quả phát triển cuối cùng phục vụ ai?

Đây cũng chính là gợi ý cho bài toán đổi mới mô hình phát triển của thành phố Đà Nẵng với trọng tâm tái cấu trúc không gian, phát triển khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực, văn hóa, chất lượng sống, thu hẹp khoảng cách giữa đồng bằng và miền núi. Như vậy, theo Nghị quyết, yêu cầu đặt ra rất cao, không đơn giản là tái cấu trúc nền kinh tế phục vụ tăng trưởng nhanh mà đổi mới mô hình phát triển, tích hợp xu hướng thời đại, phục vụ mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình.

Xác lập thuộc tính của mô hình phát triển “tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định năm thuộc tính của mô hình mới: tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Trong đó, “tự cường” là khả năng làm chủ các năng lực chiến lược, tăng sức chống chịu và hạn chế phụ thuộc. “Sáng tạo” thể hiện bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào đầu vào sang tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo. “Nhân văn” đặt con người vào vị trí chủ thể, trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển. “Bền vững” đòi hỏi phát triển kinh tế phải nằm trong khả năng chịu tải của môi trường. “Hội nhập” không chỉ là tham gia mà còn là nâng cao năng lực đóng góp, kết nối và định hình những mạng lưới phát triển mới.

Những thuộc tính này đã hiện diện khá rõ trong định hướng phát triển Đà Nẵng. Cụ thể, thành phố xác định phát triển công nghệ cao, công nghệ số, vi mạch, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế biển và logistics, giảm dần phụ thuộc vào tài nguyên, nhân công giá rẻ; đồng thời phát triển đô thị xanh, thông minh gắn với bảo tồn di sản, nâng cao đời sống Nhân dân, nhất là khu vực miền núi. Chương trình hành động số 51-CTr/TU của Thành ủy đưa ra yêu cầu giữ gìn bản sắc con người xứ Quảng “Trung dũng, kiên cường, sáng tạo, nhân văn”, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa.

Đột phá trước hết ở thể chế và quản trị

Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt đổi mới thể chế và quản trị quốc gia ở vị trí khâu đột phá. Tư duy quản lý chuyển từ kiểm soát sang kiến tạo, từ quản lý từng ngành sang quản trị hệ sinh thái, từ tiền kiểm nặng nề sang hậu kiểm thông minh, từ đo số việc đã làm sang đo kết quả và tác động.

Đà Nẵng đã và đang đi đúng hướng trong việc biến thể chế, cơ chế và sự linh hoạt trong quản trị thành lợi thế. Từ Kết luận số 79-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 259/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 136/2024/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng, đến Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, Chương trình hành động số 51-CTr/TU thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ I Đảng bộ thành phố đều gặp nhau ở tinh thần thúc đẩy hoàn thiện cơ chế, chính sách, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quy hoạch, đầu tư, đất đai, tài chính, ngân sách, xây dựng cơ chế đặc thù, vượt trội cho Khu thương mại tự do và Trung tâm tài chính quốc tế. Rõ ràng, thể chế, cơ chế đặc thù đang trở thành lợi thế, trở thành nguồn lực phát triển mới của Đà Nẵng. Điều quan trọng là không được đồng nhất thể chế, “cơ chế đặc thù” với “đặc quyền phát triển”. Cơ chế đặc thù chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành kết quả được Nhân dân thành phố thể kiểm chứng, hình thành những mô hình mang lại hiệu quả vượt trội.

Dữ liệu và AI trở thành lực lượng sản xuất mới, con người và văn hóa trở thành nguồn lực phát triển

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, còn hạ tầng số, năng lực tính toán và AI là hạ tầng mới của phát triển. Đà Nẵng cũng đã nhạy bén trong triển khai bản sao số đô thị, cảng thông minh, Khu thương mại tự do thông minh, sàn giao dịch dữ liệu; đầu tư Lab AI, Lab-Fab bán dẫn, trung tâm dữ liệu và trung tâm tính toán hiệu năng cao. Đáng chú ý hơn, thành phố định hướng dùng dữ liệu và AI để mô phỏng, dự báo các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội. Đây là bước chuyển từ số hóa quản lý sang quản trị bằng dữ liệu thể hiện sự bắt nhịp nhanh nhạy với các xu hướng mới.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đặt con người và văn hóa vào vị trí trung tâm kiến tạo năng lực phát triển. Trong đó, văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần bảo tồn mà còn là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, năng lực sáng tạo và sức mạnh mềm của địa phương, đất nước. Với di sản Hội An, Mỹ Sơn, Ngũ Hành Sơn, Cù Lao Chàm, Đà Nẵng có nhiều điều kiện để biến tư duy này thành lợi thế. Trong giai đoạn tới, Đà Nẵng cần chú trọng đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, kinh tế sáng tạo… thực sự trở thành động lực quan trọng để thành phố hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Thành phố hiện nay rất chú trọng việc thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là trong khoa học - công nghệ, công nghệ chiến lược, tài chính, ngân hàng, du lịch và công nghệ thông tin; tăng cường liên kết đại học - doanh nghiệp và hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực công nghệ cao. Đây chính là quá trình chuyển từ “có nguồn nhân lực” sang xây dựng vốn con người có khả năng tạo ra giá trị mới.

Đổi cách đo lường phát triển, vượt qua ranh giới tư duy nhiệm kỳ
Nghị quyết số 19-NQ/TW đưa ra yêu cầu rất đáng chú ý: quản lý theo mục tiêu, kết quả đầu ra và tác động phát triển. Như vậy, không thể đánh giá thành công chỉ bằng số văn bản đã ban hành, số cuộc họp, số chương trình hay tỷ lệ giải ngân; quan trọng hơn là chính sách đã giải quyết được vấn đề gì, tạo ra thay đổi nào và người dân thực sự được hưởng lợi ra sao.

Tinh thần đó được thể hiện rõ trong cách tiếp cận lấy thành quả phát triển của địa phương, tín nhiệm của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá cán bộ và hiệu quả công việc của chính quyền thành phố. Điều đó có nghĩa, thành công của Trung tâm tài chính quốc tế, Khu thương mại tự do hay đô thị thông minh cuối cùng phải được đo bằng việc làm, thu nhập, môi trường sống, chất lượng dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân.

Nghị quyết số 19-NQ/TW là đặt phát triển trong tầm nhìn dài hạn, bứt phá khỏi tư duy nhiệm kỳ. Đối với Đà Nẵng, cần xem đây là yêu cầu bức thiết vì hạ tầng, không gian và mô hình đang được định hình hôm nay sẽ quyết định cấu trúc phát triển của thành phố trong nhiều thập niên tới.

Trong hành trình đưa Nghị quyết số 19-NQ/TW vào cuộc sống, Đà Nẵng cần nhất quán quan điểm không phải phát triển nhanh hơn mà phát triển theo mô hình mới; không chỉ giải quyết những bài toán hôm nay, mà kiến tạo tương lai. Và Đà Nẵng luôn sẵn sàng trở thành địa phương tiên phong triển khai mô hình phát triển mới, đóng góp kinh nghiệm thực tiễn cho quá trình hoàn thiện thể chế và đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.










https://www.facebook.com/share/p/1HWTrzBEfB/
12/08/2026

https://www.facebook.com/share/p/1HWTrzBEfB/

NGHỊ QUYẾT SỐ 19-NQ/TW: TỪ TƯ DUY ĐỘT PHÁ VỀ
MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN ĐẾN THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Trong bối cảnh mới, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt, hướng tới kiến tạo mô hình phát triển mới, dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu, con người, văn hóa và năng lực quản trị quốc gia. Thực tiễn Đà Nẵng cho thấy nhiều nội dung của Nghị quyết đã và đang được Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố triển khai đúng hướng.

Từ “đổi mới mô hình tăng trưởng” đến “đổi mới mô hình phát triển”

Điểm rất mới của Nghị quyết đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển thay vì mô hình tăng trưởng như trước. Nghị quyết đã xác lập bảy mô hình thành phần gồm: kinh tế; xã hội; văn hóa và con người; môi trường sinh thái; quốc phòng, an ninh; đối ngoại và hội nhập quốc tế; quản trị quốc gia. Như vậy, bên cạnh việc trả lời câu hỏi nền kinh tế tăng trưởng bằng nguồn lực nào, theo phương thức nào và với hiệu quả ra sao, mô hình phát triển phải giải được bài toán của thời đại: Việt Nam muốn trở thành quốc gia như thế nào; con người, thể chế, khoa học, công nghệ, văn hóa và môi trường được đặt ở đâu và quan trọng nhất, thành quả phát triển cuối cùng phục vụ ai?

Đây cũng chính là gợi ý cho bài toán đổi mới mô hình phát triển của thành phố Đà Nẵng với trọng tâm tái cấu trúc không gian, phát triển khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực, văn hóa, chất lượng sống, thu hẹp khoảng cách giữa đồng bằng và miền núi. Như vậy, theo Nghị quyết, yêu cầu đặt ra rất cao, không đơn giản là tái cấu trúc nền kinh tế phục vụ tăng trưởng nhanh mà đổi mới mô hình phát triển, tích hợp xu hướng thời đại, phục vụ mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình.

Xác lập thuộc tính của mô hình phát triển “tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định năm thuộc tính của mô hình mới: tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Trong đó, “tự cường” là khả năng làm chủ các năng lực chiến lược, tăng sức chống chịu và hạn chế phụ thuộc. “Sáng tạo” thể hiện bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào đầu vào sang tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo. “Nhân văn” đặt con người vào vị trí chủ thể, trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển. “Bền vững” đòi hỏi phát triển kinh tế phải nằm trong khả năng chịu tải của môi trường. “Hội nhập” không chỉ là tham gia mà còn là nâng cao năng lực đóng góp, kết nối và định hình những mạng lưới phát triển mới.

Những thuộc tính này đã hiện diện khá rõ trong định hướng phát triển Đà Nẵng. Cụ thể, thành phố xác định phát triển công nghệ cao, công nghệ số, vi mạch, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế biển và logistics, giảm dần phụ thuộc vào tài nguyên, nhân công giá rẻ; đồng thời phát triển đô thị xanh, thông minh gắn với bảo tồn di sản, nâng cao đời sống Nhân dân, nhất là khu vực miền núi. Chương trình hành động số 51-CTr/TU của Thành ủy đưa ra yêu cầu giữ gìn bản sắc con người xứ Quảng “Trung dũng, kiên cường, sáng tạo, nhân văn”, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa.

Đột phá trước hết ở thể chế và quản trị

Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt đổi mới thể chế và quản trị quốc gia ở vị trí khâu đột phá. Tư duy quản lý chuyển từ kiểm soát sang kiến tạo, từ quản lý từng ngành sang quản trị hệ sinh thái, từ tiền kiểm nặng nề sang hậu kiểm thông minh, từ đo số việc đã làm sang đo kết quả và tác động.

Đà Nẵng đã và đang đi đúng hướng trong việc biến thể chế, cơ chế và sự linh hoạt trong quản trị thành lợi thế. Từ Kết luận số 79-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 259/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 136/2024/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng, đến Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, Chương trình hành động số 51-CTr/TU thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ I Đảng bộ thành phố đều gặp nhau ở tinh thần thúc đẩy hoàn thiện cơ chế, chính sách, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quy hoạch, đầu tư, đất đai, tài chính, ngân sách, xây dựng cơ chế đặc thù, vượt trội cho Khu thương mại tự do và Trung tâm tài chính quốc tế. Rõ ràng, thể chế, cơ chế đặc thù đang trở thành lợi thế, trở thành nguồn lực phát triển mới của Đà Nẵng. Điều quan trọng là không được đồng nhất thể chế, “cơ chế đặc thù” với “đặc quyền phát triển”. Cơ chế đặc thù chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành kết quả được Nhân dân thành phố thể kiểm chứng, hình thành những mô hình mang lại hiệu quả vượt trội.

Dữ liệu và AI trở thành lực lượng sản xuất mới, con người và văn hóa trở thành nguồn lực phát triển

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, còn hạ tầng số, năng lực tính toán và AI là hạ tầng mới của phát triển. Đà Nẵng cũng đã nhạy bén trong triển khai bản sao số đô thị, cảng thông minh, Khu thương mại tự do thông minh, sàn giao dịch dữ liệu; đầu tư Lab AI, Lab-Fab bán dẫn, trung tâm dữ liệu và trung tâm tính toán hiệu năng cao. Đáng chú ý hơn, thành phố định hướng dùng dữ liệu và AI để mô phỏng, dự báo các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội. Đây là bước chuyển từ số hóa quản lý sang quản trị bằng dữ liệu thể hiện sự bắt nhịp nhanh nhạy với các xu hướng mới.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đặt con người và văn hóa vào vị trí trung tâm kiến tạo năng lực phát triển. Trong đó, văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần bảo tồn mà còn là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, năng lực sáng tạo và sức mạnh mềm của địa phương, đất nước. Với di sản Hội An, Mỹ Sơn, Ngũ Hành Sơn, Cù Lao Chàm, Đà Nẵng có nhiều điều kiện để biến tư duy này thành lợi thế. Trong giai đoạn tới, Đà Nẵng cần chú trọng đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, kinh tế sáng tạo… thực sự trở thành động lực quan trọng để thành phố hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Thành phố hiện nay rất chú trọng việc thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là trong khoa học - công nghệ, công nghệ chiến lược, tài chính, ngân hàng, du lịch và công nghệ thông tin; tăng cường liên kết đại học - doanh nghiệp và hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực công nghệ cao. Đây chính là quá trình chuyển từ “có nguồn nhân lực” sang xây dựng vốn con người có khả năng tạo ra giá trị mới.

Đổi cách đo lường phát triển, vượt qua ranh giới tư duy nhiệm kỳ
Nghị quyết số 19-NQ/TW đưa ra yêu cầu rất đáng chú ý: quản lý theo mục tiêu, kết quả đầu ra và tác động phát triển. Như vậy, không thể đánh giá thành công chỉ bằng số văn bản đã ban hành, số cuộc họp, số chương trình hay tỷ lệ giải ngân; quan trọng hơn là chính sách đã giải quyết được vấn đề gì, tạo ra thay đổi nào và người dân thực sự được hưởng lợi ra sao.

Tinh thần đó được thể hiện rõ trong cách tiếp cận lấy thành quả phát triển của địa phương, tín nhiệm của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá cán bộ và hiệu quả công việc của chính quyền thành phố. Điều đó có nghĩa, thành công của Trung tâm tài chính quốc tế, Khu thương mại tự do hay đô thị thông minh cuối cùng phải được đo bằng việc làm, thu nhập, môi trường sống, chất lượng dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân.

Nghị quyết số 19-NQ/TW là đặt phát triển trong tầm nhìn dài hạn, bứt phá khỏi tư duy nhiệm kỳ. Đối với Đà Nẵng, cần xem đây là yêu cầu bức thiết vì hạ tầng, không gian và mô hình đang được định hình hôm nay sẽ quyết định cấu trúc phát triển của thành phố trong nhiều thập niên tới.

Trong hành trình đưa Nghị quyết số 19-NQ/TW vào cuộc sống, Đà Nẵng cần nhất quán quan điểm không phải phát triển nhanh hơn mà phát triển theo mô hình mới; không chỉ giải quyết những bài toán hôm nay, mà kiến tạo tương lai. Và Đà Nẵng luôn sẵn sàng trở thành địa phương tiên phong triển khai mô hình phát triển mới, đóng góp kinh nghiệm thực tiễn cho quá trình hoàn thiện thể chế và đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.










Address

Quang Nam

Telephone

+842353864127

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội An Tây 24h posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share