Hoàn Long Đổi Mới

Hoàn Long Đổi Mới Ban Xây Dựng Đảng Xã Hoàn Long, tỉnh Hưng Yên

11/08/2026

Thông cáo báo chí số 8, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI

Thứ hai, ngày 10/8/2026, ngày làm việc thứ tám, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.

BUỔI SÁNG

Trước khi bắt đầu chương trình phiên họp, Quốc hội dành một phút mặc niệm tưởng nhớ đồng chí Saysomphone Phomvihane, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã từ trần ngày 8/8/2026.

Sau đó, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, thảo luận về các nội dung:

Nội dung 1: Về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), tại phiên thảo luận có 17 đại biểu phát biểu, trong đó, ý kiến đại biểu tập trung về các nội dung: phạm vi hòa giải ở cơ sở; nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở; tiêu chuẩn của hòa giải viên; bầu, chỉ định, công nhận hòa giải viên; quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên, Tổ trưởng tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải; tổ hòa giải; quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải; phân công hòa giải viên; hình thức tiến hành và hỗ trợ tham gia hòa giải; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và hòa giải trực tuyến; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp; kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở; những hành vi bị nghiêm cấm…

Kết thúc thảo luận, Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Nội dung 2: Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tại phiên thảo luận có 17 đại biểu phát biểu.

Các ý kiến cơ bản thống nhất với nhiều nội dung trong Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Bên cạnh đó, các đại biểu tập trung cho ý kiến về các nội dung: chính sách của Nhà nước và các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, điều kiện cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; đăng ký hợp đồng lao động; các chủ thể được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; giáo dục định hướng cho người Việt Nam đi lao động tại nước ngoài; cơ chế phối hợp xử lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài vi phạm nghiêm trọng; báo cáo đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài; trách nhiệm quản lý nhà nước về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong chuẩn bị nguồn lao động; quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp dịch vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp dịch vụ trong trường hợp phá sản. Ngoài ra, một số đại biểu góp ý về lao động thời vụ theo thỏa thuận hợp tác giữa các địa phương của Việt Nam và địa phương ở nước ngoài; giao kết trách nhiệm khi doanh nghiệp mở thủ tục phá sản; hoạt động của đơn vị sự nghiệp; cơ chế phối hợp liên ngành; quy định chuyển tiếp và một số nội dung khác của dự thảo Luật.

Kết thúc thảo luận, Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Tiến Hải phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

BUỔI CHIỀU

Nội dung 1: Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Tại phiên thảo luận có 18 đại biểu phát biểu, trong đó có 4 đại biểu tranh luận; các ý kiến đại biểu cơ bản nhất trí với nhiều nội dung trong Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội. Bên cạnh đó, để hoàn thiện dự thảo Luật, các đại biểu tập trung cho ý kiến về các nội dung: giải thích từ ngữ; nguyên tắc bồi thường của Nhà nước; việc ra quyết định giải quyết bồi thường; kinh phí bồi thường; phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính; phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ; thụ lý hồ sơ và cử người giải quyết bồi thường; thương lượng việc giải quyết bồi thường; thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả; lập dự toán kinh phí bồi thường; xác định mức hoàn trả, giảm mức hoàn trả; cấp phát kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường; quy định chuyển tiếp…

Kết thúc thảo luận, Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Nội dung 2: Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc. Tại phiên thảo luận có 11 đại biểu phát biểu, 1 đại biểu tranh luận; các ý kiến đại biểu tập trung thảo luận về các nội dung: nguyên tắc hoạt động kiến trúc; bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc; yêu cầu đối với kiến trúc đô thị, kiến trúc nông thôn; quy chế và điều chỉnh quy chế quản lý kiến trúc; thi tuyển kiến trúc, thiết kế kiến trúc; dịch vụ kiến trúc; điều kiện hành nghề kiến trúc; điều khoản chuyển tiếp.

Kết thúc thảo luận, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Thứ ba, ngày 11/8/2026:

Buổi sáng, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị.

Buổi chiều, từ 14 giờ đến 15 giờ 30 phút, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Nghị quyết về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án (Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án).

Từ 15 giờ 30 phút đến 15 giờ 45 phút, Quốc hội họp riêng nghe Tờ trình, Báo cáo thuyết minh, Báo cáo thẩm tra về đề nghị phê chuẩn hiệp định liên quan Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận; sau đó, Quốc hội thảo luận ở Tổ về đề nghị phê chuẩn hiệp định liên quan đến Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.

11/08/2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến thủ đô Canberra, tiếp tục chuyến thăm Australia

Sau khi kết thúc các hoạt động tại thành phố Sydney, tối 10/8 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Canberra, tiếp tục chuyến thăm cấp Nhà nước Liên bang Australia từ ngày 9-12/8.

Đón Đoàn tại sân bay quốc tế Canberra, về phía Australia có: Đại diện của Toàn quyền Australia Jeff Barnes; đại diện của Thủ tướng Australia, Bộ trưởng phụ trách Tài nguyên, Bộ trưởng phụ trách Bắc Australia Madeleine King; Phó Chủ nhiệm Văn phòng Thủ tướng và Nội các Justin Hayhurst; Đại sứ Australia tại Việt Nam Gillian Bird.

Phía Việt Nam có: Đại sứ Việt Nam tại Australia Phạm Hùng Tâm và phu nhân; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Sydney Nguyễn Thanh Tùng; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Perth Phạm Hải Anh; cán bộ, nhân viên các cơ quan đại diện và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Australia.

Hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam và Australia đã đạt được những bước phát triển tốt đẹp, nhất là sau 2 năm nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện (3/2024). Hai nước duy trì thường xuyên tiếp xúc cấp cao và nhiều cơ chế hợp tác song phương, đồng thời phối hợp chặt chẽ tại ASEAN, APEC và Liên hợp quốc.

Quan hệ Việt Nam-Australia đang ở giai đoạn phát triển năng động nhất kể từ khi thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện. Kim ngạch thương mại hai chiều hiện ở mức hơn 14 tỷ USD. Hai nền kinh tế có tính bổ trợ cao và cùng là thành viên các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, RCEP và AANZFTA. Hai bên có nhiều điều kiện để mở rộng thương mại, đầu tư, đa dạng hóa chuỗi cung ứng và phát triển các ngành công nghiệp tương lai.

11/08/2026

Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo tại Kỳ họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.

Nội dung Thông báo số 140-TB/VPTW như sau:

Ngày 5/8/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng (sau đây gọi là Ban Chỉ đạo) tổ chức Kỳ họp thứ nhất do đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng ban Chỉ đạo chủ trì. Tham dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí Ủy viên Ban Chỉ đạo, đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương là thành viên Tổ Biên tập.

Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo báo cáo và ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo kết luận như sau:

1. Ghi nhận, đánh giá cao sự chuẩn bị nghiêm túc, trách nhiệm của Ban Tổ chức Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng trong việc chuẩn bị tài liệu, dự thảo kế hoạch, quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ và bước đầu xác định những định hướng lớn cho công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.

2. Việc tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của nhiệm kỳ Đại hội XIV, trực tiếp phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh chính trị của Đảng và chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV của Đảng.

Điều lệ Đảng là văn kiện chính trị, pháp lý cơ bản về tổ chức và hoạt động của Đảng; cụ thể hóa Cương lĩnh chính trị về nguyên tắc tổ chức, chế độ vận hành, quyền và trách nhiệm của đảng viên, kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Những nội dung cốt lõi của Điều lệ Đảng hiện nay vẫn còn nguyên giá trị. Việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cần đặt trong tổng thể quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh chính trị, Hiến pháp; kịp thời lấy ý kiến trong Đảng và Nhân dân; mục tiêu là xây dựng Điều lệ Đảng khoa học, chặt chẽ, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện; ổn định lâu dài và có giá trị bền vững.

Do đó, cần bám sát quan điểm, nguyên tắc, phạm vi và các yêu cầu sau:

(i) Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và nguyên tắc tập trung dân chủ.

(ii) Bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng bộ với sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh chính trị năm 2011 và sửa đổi Hiến pháp năm 2013.

(iii) Kế thừa những quy định còn phù hợp; sửa đổi triệt để những nội dung đang gây vướng mắc phổ biến hoặc tạo khoảng trống về tổ chức, thẩm quyền, trách nhiệm; những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, chưa đủ cơ sở lý luận và thực tiễn thì tiếp tục cho thí điểm, tổng kết hoặc điều chỉnh bằng các quy định, hướng dẫn của Trung ương.

(iv) Phân định rõ phạm vi điều chỉnh của từng cấp độ văn bản, bảo đảm tính thống nhất và ổn định của hệ thống văn bản của Đảng. Theo đó, Điều lệ Đảng chỉ quy định vấn đề có tính nền tảng, cốt lõi, mang tính nguyên tắc, ổn định lâu dài và thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội Đảng; Quy định thi hành Điều lệ Đảng cụ thể hóa các nội dung của Điều lệ, quy định về mô hình, thẩm quyền, trách nhiệm và những nội dung cần áp dụng thống nhất trong Đảng; Hướng dẫn quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, quy trình và nghiệp vụ để tổ chức thực hiện. Không đưa vào Điều lệ Đảng những nội dung mang tính kỹ thuật, chi tiết, thường xuyên điều chỉnh, sửa đổi; đồng thời rà soát, bổ sung những vấn đề cơ bản, có tính ổn định, đã được kiểm chứng thực tiễn, thống nhất áp dụng nhưng còn phân tán ở nhiều văn bản.

(v) Mỗi đề xuất sửa đổi Điều lệ Đảng phải luận giải đầy đủ, thuyết phục về cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn; làm rõ những bất cập của quy định hiện hành, nguyên nhân phát sinh, sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung.

3. Định hướng một số nội dung tập trung tổng kết, nghiên cứu:

3.1. Về những vấn đề cơ bản về Đảng, đảng viên, tổ chức cơ sở đảng và mối quan hệ với Nhân dân:

(i) Xác định nội dung đưa vào Điều lệ phải có luận chứng chặt chẽ, giá trị lâu dài ở Phần mở đầu và các quy định cơ bản trong mối quan hệ với Cương lĩnh chính trị, Hiến pháp và lý luận đường lối đổi mới. Làm rõ yêu cầu xây dựng Đảng toàn diện, trong sạch, vững mạnh, "thật sự là đạo đức, là văn minh"; gắn bó mật thiết với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của Nhân dân.

(ii) Nghiên cứu tiêu chuẩn, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm nêu gương; việc phát triển, giáo dục, quản lý, đánh giá, sàng lọc đảng viên. Tiêu chuẩn về bản lĩnh chính trị, đạo đức, ý thức kỷ luật, năng lực thực hiện nhiệm vụ, tinh thần đổi mới, dám chịu trách nhiệm và sự gắn bó với Nhân dân; yêu cầu phải rõ, khả thi, có thể kiểm tra, đánh giá được.

(iii) Tổng kết việc quản lý đảng viên đi làm việc xa, ở ngoài nước, hoạt động phân tán; miễn, tạm miễn sinh hoạt đảng; hồ sơ và chuyển sinh hoạt đảng. Nghiên cứu mô hình phù hợp với chi bộ đông đảng viên và địa bàn đặc thù; khắc phục triệt để sinh hoạt hình thức, hành chính hóa, nể nang, né tránh; nâng cao tính lãnh đạo, giáo dục và sức chiến đấu, tính tiền phong, tính gương mẫu ở từng chi bộ, từng đảng viên.

3.2. Về hệ thống tổ chức, phương thức lãnh đạo của Đảng trong mô hình mới:

(i) Xác định rõ vị trí, nhiệm vụ, thẩm quyền và quan hệ giữa các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Đánh giá mô hình tổ chức đảng ở địa bàn dân cư, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, ở ngoài nước; việc thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất trong nhiệm kỳ, đặc biệt quan tâm đến tổ chức cơ sở đảng.

(ii) Đánh giá mô hình đảng ủy sau khi kết thúc hoạt động của đảng đoàn, ban cán sự đảng; làm rõ quan hệ giữa đảng ủy với tập thể lãnh đạo, người đứng đầu và tổ chức đảng trực thuộc. Đối với Quân đội, Công an cần tiếp tục khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; làm rõ mối quan hệ phối hợp với cấp ủy địa phương.

(iii) Làm rõ cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ"; phân định rõ việc cấp ủy lãnh đạo, kiểm tra với việc cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội quyết định, thanh tra, giám sát tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm theo thẩm quyền. Đảng lãnh đạo toàn diện nhưng không bao biện, làm thay.

(iv) Tổng kết nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; làm rõ trách nhiệm của cấp ủy, thường trực cấp ủy và người đứng đầu. Phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm tra, giám sát.

3.3. Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng và kiểm soát quyền lực:

(i) Rà soát thẩm quyền kiểm tra, giám sát, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong mô hình mới; làm rõ quan hệ giữa cấp ủy với Ủy ban Kiểm tra, giữa cấp trên với cấp dưới.

(ii) Chuyển mạnh từ xử lý vi phạm sang chủ động phòng ngừa, cảnh báo và giám sát từ sớm; kịp thời chấn chỉnh suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Bảo đảm đồng bộ giữa kỷ luật đảng với kỷ luật hành chính và pháp luật; kỷ luật nghiêm minh nhưng khách quan, công bằng, đúng thẩm quyền, đúng quy trình.

(iii) Đề xuất về thẩm quyền, hình thức kỷ luật và nhiệm vụ mới của Ủy ban Kiểm tra.

3.4. Về chuyển đổi số, các lĩnh vực đặc thù và kỹ thuật của Điều lệ Đảng:

(i) Nâng cao chất lượng quản lý tổ chức, đảng viên và điều hành công việc thông qua môi trường số. Nghiên cứu nguyên tắc về định danh, xác thực, khai thác, lưu trữ, bảo vệ dữ liệu; điều kiện sinh hoạt, biểu quyết và quản lý trên môi trường số. Bảo đảm bí mật của Đảng, an toàn dữ liệu; công nghệ không thay thế sinh hoạt chính trị, tự phê bình, phê bình và trách nhiệm cá nhân.

(ii) Rà soát quy định về tài chính, tài sản, đảng phí; Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và các lĩnh vực đặc thù. Về kỹ thuật, Điều lệ phải ngắn gọn, logic, thống nhất, dễ tra cứu, dễ hiểu, dễ thực hiện; không vì sửa câu chữ mà làm thay đổi bản chất hoặc thẩm quyền.

4. Về phương pháp, cách thức triển khai, thực hiện nhiệm vụ tổng kết: Cần kế thừa Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng, trọng tâm là cập nhật thực tiễn sau sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện Quy định số 208-QÐ/TW, ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về thi hành Điều lệ Đảng. Nhận diện đúng vấn đề cơ bản, phổ biến, lâu dài cần giải quyết ở cấp Điều lệ Đảng. Kết hợp tổ chức khảo sát diện rộng với nghiên cứu chuyên sâu; giữa số liệu tổng hợp và điển hình cụ thể; giữa tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận. Lựa chọn địa bàn khảo sát bảo đảm tính đại diện, đặc biệt chú trọng cấp cơ sở và địa bàn đặc thù. Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế nhưng phải bám sát thực tiễn Việt Nam; tuyệt đối không rập khuôn, máy móc.

Việc lấy ý kiến tiến hành qua nhiều vòng, đúng đối tượng, trúng vấn đề và thực chất. Mỗi phương án đề xuất phải nêu rõ cơ sở chính trị-pháp lý, ưu, khuyết điểm, đánh giá tác động và điều kiện thực hiện. Mọi ý kiến tham gia phải được tổng hợp trung thực, khách quan; việc tiếp thu hay bảo lưu đều phải giải trình rõ ràng, thấu đáo, khoa học.

5. Về tổ chức thực hiện

5.1. Về tiến độ, lộ trình triển khai tổng kết. Thống nhất với đề xuất của Ban Tổ chức Trung ương; yêu cầu rà soát kỹ lưỡng, làm rõ các mốc thời gian, xác định nội dung cụ thể, sản phẩm đầu ra và cơ chế kiểm soát chất lượng. Trong đó, bảo đảm:

(i) Năm 2026, hoàn thiện đề cương, phương pháp, danh mục chuyên đề.

(ii) Xuyên suốt năm 2027 và năm 2028, nghiên cứu xây dựng chuyên đề, tổ chức khảo sát, sơ kết mô hình, xác định vấn đề cần sửa đổi, bổ sung; xây dựng dự thảo Báo cáo tổng thể, lấy ý kiến nhiều vòng.

(iii) Năm 2029, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Báo cáo tổng thể, bảo đảm đồng bộ với Báo cáo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130) và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm cung cấp các luận cứ khoa học, thực tiễn vững chắc; làm cơ sở để các Tiểu ban của Đại hội XV, nhất là Tiểu ban Điều lệ Đảng xây dựng và đề xuất Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV của Đảng xem xét, sửa đổi Điều lệ Đảng theo quy định.

5.2. Về trách nhiệm, kỷ luật trong tổ chức thực hiện. Các đồng chí Ủy viên Ban Chỉ đạo trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát và phản biện; tuyệt đối không giao toàn bộ cho cơ quan tham mưu, giúp việc. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu quán triệt sâu sắc các nội dung sau:

(i) Mọi đề xuất, nhận định, đánh giá phải dựa trên cơ sở thực tiễn và số liệu chứng minh tính xác thực; tăng cường bám sát cơ sở, lắng nghe ý kiến từ cán bộ, đảng viên và người trực tiếp thực hiện.

(ii) Việc giao nhiệm vụ phải bảo đảm rõ đầu mối chủ trì, rõ sản phẩm, rõ tiến độ và rõ trách nhiệm; kiên quyết khắc phục triệt để tình trạng giao việc chung chung, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.

(iii) Thường xuyên phối hợp chặt chẽ, chia sẻ thông tin, dữ liệu; đề cao tinh thần phản biện khách quan, thẳng thắn; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, lợi ích nhóm, lợi ích ngành.

(iv) Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo, bảo vệ bí mật của Đảng; đặt lợi ích của Đảng, đất nước và Nhân dân lên trên hết, trước hết.

5.3. Giao Ban Tổ chức Trung ương - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo:

(i) Tiếp thu đầy đủ ý kiến thành viên Ban Chỉ đạo và ý kiến hợp lý của các cơ quan; khẩn trương hoàn thiện các văn bản: Quy chế làm việc, Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo, Thông báo phân công nhiệm vụ các thành viên; thành lập Tổ Biên tập; hoàn thiện Báo cáo định hướng tổng kết thực tiễn và nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng; Kế hoạch tổng kết thực tiễn và nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Đồng thời, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương trình đồng chí Trưởng Ban Chỉ đạo ký ban hành các tài liệu phục vụ hoạt động của Ban Chỉ đạo để làm cơ sở triển khai thực hiện.

(ii) Chủ trì nghiên cứu, xây dựng Đề cương nghiên cứu tổng thể và Đề cương từng nhóm nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng, báo cáo Ban Chỉ đạo vào cuối quý III/2026 để trình Trung ương xem xét, cho ý kiến tại Hội nghị lần thứ tư.

11/08/2026
11/08/2026

Tạo chuyển biến thực chất trong học tập và thực hành theo Bác - Bài 1: Học tập và thực hành theo Bác gắn chặt với nhiệm vụ chính trị

Tác giả: Nhóm phóng viên

LTS: Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13-7-2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" (Chỉ thị 07), xác định việc học tập và thực hành theo Bác là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Bám sát tinh thần Chỉ thị 07 và các chủ trương, quyết sách của Đảng, loạt bài "Tạo chuyển biến thực chất trong học tập và thực hành theo Bác" tập trung phân tích, làm rõ yêu cầu đưa việc học tập và thực hành theo Bác đi vào chiều sâu, trở thành động lực nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị.

Đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng thực thi nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị. Trong bối cảnh đó, Chỉ thị 07 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đưa việc học tập và thực hành theo Bác gắn chặt với nhiệm vụ chính trị, trở thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên.

Đòi hỏi của thực tiễn

Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ. Thực tiễn cho thấy, trong tình hình hiện nay, ở nhiều lĩnh vực, điều còn trăn trở không phải là thiếu chủ trương hay thiếu quyết tâm chính trị mà là có lúc, có nơi việc tổ chức thực hiện chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Một số nhiệm vụ triển khai còn chậm; có những điểm nghẽn chưa được tháo gỡ dứt điểm; có những vấn đề người dân, doanh nghiệp mong mỏi nhưng việc giải quyết chưa thật sự kịp thời. Những hạn chế ấy không chỉ liên quan đến cơ chế, chính sách mà còn phản ánh trách nhiệm, phương pháp làm việc và năng lực thực thi của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Chính từ yêu cầu đó, việc đẩy mạnh học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh là yêu cầu của sự nghiệp cách mạng hiện nay. Điều đất nước cần là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh phải được vận dụng vào từng quyết định, từng nhiệm vụ, từng hành động cụ thể; trở thành phương pháp làm việc, phương pháp lãnh đạo và phương pháp giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Đây cũng là lý do Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 07 với nhiều điểm nhấn, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Nhìn lại 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05) có thể khẳng định, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao nhận thức, rèn luyện phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tuy nhiên, quá trình tổng kết cũng chỉ ra những hạn chế cần khắc phục: Ở một số nơi, việc học và làm theo Bác còn biểu hiện hình thức; chưa gắn chặt với giải quyết những vấn đề thực tiễn...

Chính từ thực tiễn đó, Chỉ thị 07 không chỉ là sự tiếp nối Chỉ thị 05 mà còn thể hiện yêu cầu đổi mới cách tiếp cận. Điểm nổi bật của Chỉ thị không nằm ở sự thay đổi từ ngữ từ "làm theo" sang "thực hành", mà ở yêu cầu đưa việc học tập và thực hành theo Bác gắn chặt hơn với nhiệm vụ chính trị, với chất lượng thực thi công vụ và hiệu quả công việc. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về cách diễn đạt mà phản ánh yêu cầu của thực tiễn phát triển: Giá trị của việc học phải được kiểm chứng bằng kết quả, bằng những chuyển biến cụ thể trong công tác xây dựng Đảng, trong hoạt động của bộ máy và trong đời sống xã hội.

Điều cần nhấn mạnh là, "thực hành" không thay thế "làm theo" mà mở rộng nội hàm của "làm theo". Nếu "làm theo" chủ yếu nhấn mạnh việc noi gương, tu dưỡng và rèn luyện bản thân thì "thực hành" đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải biết vận dụng tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh vào giải quyết công việc hằng ngày; biến nhận thức thành hành động, biến phương pháp của Bác thành phương pháp công tác, biến phong cách của Bác thành chuẩn mực trong thực thi nhiệm vụ. Nói cách khác, "làm theo" thiên về sự rèn luyện của mỗi cá nhân, còn "thực hành" hướng tới hiệu quả hoạt động của cả tổ chức và hệ thống chính trị. Đó cũng chính là thông điệp nổi bật mà Chỉ thị 07 đặt ra, tạo tiền đề để việc học tập và thực hành theo Bác đi vào chiều sâu, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên

Một trong những điểm nổi bật của Chỉ thị 07 là Bộ Chính trị xác định việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên.

Việc Bộ Chính trị nhấn mạnh nhiệm vụ "trọng yếu" và "thường xuyên" thể hiện cách tiếp cận rất rõ ràng đối với công tác xây dựng Đảng. "Trọng yếu" khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của việc học tập và thực hành theo Bác trong toàn bộ nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; còn "thường xuyên" nhấn mạnh đây là công việc phải được tiến hành liên tục, bền bỉ, gắn với từng nhiệm vụ, từng quyết định và từng hành động của mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên. Chỉ khi hai nhiệm vụ ấy được thực hiện đồng thời, việc học tập và thực hành theo Bác mới tránh được tính hình thức, tạo nên những chuyển biến thực chất; mới trở thành một bộ phận hữu cơ trong công tác lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện ở mọi cấp.

Điều đó cũng có nghĩa, học và thực hành theo Bác chính là cách để nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Đối với mỗi cấp ủy, việc học và thực hành theo Bác phải được cụ thể hóa bằng những chương trình, kế hoạch gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; lấy kết quả giải quyết công việc, hiệu quả phục vụ nhân dân và sự chuyển biến trong xây dựng Đảng làm thước đo. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, việc học tập và thực hành theo Bác phải được thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tác phong làm việc khoa học, ý thức phục vụ nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung và không ngừng tự rèn luyện để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Điểm đáng chú ý là Chỉ thị 07 không chỉ đặt trách nhiệm đối với từng cá nhân mà còn yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị phải tạo môi trường để việc học tập và thực hành theo Bác trở thành nền nếp trong lãnh đạo, quản lý và thực thi công vụ.

Việc xác định học tập và thực hành theo Bác là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên không chỉ nhằm duy trì nền nếp học tập, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là tạo chuyển biến thực chất trong xây dựng Đảng và hoạt động của cả hệ thống chính trị. Khi việc học tập và thực hành theo Bác trở thành yêu cầu tự giác trong mỗi tổ chức và mỗi cán bộ, đảng viên; khi tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh được chuyển hóa thành phương pháp lãnh đạo, phương pháp công tác và chuẩn mực trong thực thi nhiệm vụ hằng ngày, thì việc học tập và thực hành theo Bác sẽ trở thành động lực nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

(còn nữa)

Báo QĐND


11/08/2026

Tạo chuyển biến thực chất trong học tập và thực hành theo Bác - Bài 2: Giải quyết việc khó

Tác giả: Nhóm phóng viên

Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và không ít khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13-7-2026 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" (Chỉ thị 07) đặt ra yêu cầu vận dụng tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh vào giải quyết những vấn đề của thực tiễn, biến việc học và thực hành theo Bác thành động lực nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ và khơi thông những điểm nghẽn trong phát triển.

Thực hành phương pháp của Bác

Điều làm nên giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nằm ở những quan điểm về đạo đức cách mạng hay tinh thần hết lòng vì nước, vì dân, mà còn ở một phương pháp tư duy và hành động luôn bắt đầu từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan và hướng tới hiệu quả rõ rệt. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ lựa chọn con đường theo khuôn mẫu có sẵn. Mỗi quyết sách của Người đều được hình thành từ sự khảo sát thực tiễn, lắng nghe nhân dân, tổng kết kinh nghiệm và lựa chọn cách làm phù hợp nhất với điều kiện của đất nước trong từng thời kỳ.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước đang giải quyết nhiều vấn đề, từ xây dựng thể chế phát triển, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đến hội nhập quốc tế sâu rộng. Mỗi lĩnh vực đều xuất hiện những yêu cầu mới, những bài toán mới và cả những khó khăn chưa từng có tiền lệ. Trong bối cảnh ấy, điều cần là một phương pháp tư duy đúng để nhận diện vấn đề, lựa chọn hướng đi và tổ chức thực hiện hiệu quả. Đó cũng chính là giá trị lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điểm nổi bật trong phương pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn lấy thực tiễn làm điểm xuất phát và lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Những chỉ dẫn đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị, bởi trong bất kỳ lĩnh vực nào, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện, nếu không xuất phát từ thực tiễn thì rất khó tìm được lời giải đúng.

Chính vì vậy, Chỉ thị 07 nhấn mạnh phương pháp làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn; là phong cách nói đi đôi với làm, quyết liệt trong hành động; là cách phát huy trí tuệ tập thể, khơi dậy sức dân và kiên trì giải quyết công việc đến cùng. Đây cũng chính là những phẩm chất mà đội ngũ cán bộ hôm nay cần có để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước và thực hiện tốt yêu cầu: Khơi thông các nguồn lực, tháo gỡ những điểm nghẽn và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Muốn làm được điều đó cần một phương pháp lãnh đạo, quản lý và tổ chức công việc khoa học, phù hợp với thực tiễn. Chính ở điểm này, tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định giá trị như một nền tảng tư duy, giúp mỗi cấp ủy, mỗi cơ quan, mỗi cán bộ, đảng viên tìm được cách giải quyết đúng đối với những vấn đề mới đang đặt ra.

Tìm lời giải đúng trong từng hoàn cảnh

Một trong những giá trị lớn nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là không đưa ra những lời giải có sẵn cho mọi vấn đề phát triển của đất nước, mà hướng chúng ta tìm ra lời giải đúng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Đó là biết nghiên cứu trước khi quyết định, biết phát huy trí tuệ tập thể thay vì áp đặt chủ quan, biết lắng nghe thực tiễn để kịp thời điều chỉnh khi cách làm không còn phù hợp, biết khơi dậy sức dân và biến sức mạnh của nhân dân thành động lực phát triển. Những giá trị ấy càng có ý nghĩa khi đất nước đang yêu cầu xây dựng một nền quản trị hiện đại, kiến tạo phát triển và phục vụ nhân dân.

Tinh thần đó cũng được thể hiện rõ trong Chỉ thị 07 khi yêu cầu gắn việc học tập và thực hành theo Bác với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, các đột phá chiến lược và nhiệm vụ trọng tâm của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Điều này cho thấy việc học và thực hành theo Bác không nhằm bổ sung thêm một phần việc mới mà giúp nâng cao chất lượng thực hiện những nhiệm vụ đang đặt ra. Mỗi địa phương có điều kiện khác nhau thì cách phát huy tiềm năng cũng khác nhau; mỗi ngành có những khó khăn riêng thì cách tháo gỡ cũng không giống nhau. Điều quan trọng là phải biết vận dụng sáng tạo tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh để tìm ra lời giải phù hợp với thực tiễn của mình, thay vì trông chờ vào những mô hình hay công thức chung.

Thực tiễn phát triển của đất nước trong những năm qua cũng cho thấy, nhiều địa phương, cơ quan đã tạo được bước chuyển mạnh khi biết chủ động đổi mới cách nghĩ, cách làm, mạnh dạn tháo gỡ những rào cản, phát huy tiềm năng và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội. Những kết quả đó không chỉ xuất phát từ điều kiện thuận lợi mà còn từ cách tiếp cận đúng đối với thực tiễn, từ tinh thần chủ động tìm lời giải cho những việc khó, đúng với phương pháp làm việc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn. Ngược lại, nơi nào còn tư duy trông chờ, máy móc hoặc ngại thay đổi thì ở đó thường chậm nắm bắt cơ hội, hiệu quả công việc chưa cao và khó tạo được động lực phát triển.

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, điều cần học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là phẩm chất đạo đức hay phong cách gần dân mà còn là phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề và phương pháp tổ chức thực hiện. Khi mỗi cấp ủy, mỗi cơ quan và mỗi cán bộ biết lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của đất nước và nhân dân làm mục tiêu, lấy hiệu quả công việc làm thước đo thì tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ thực sự trở thành "chìa khóa giải quyết việc khó", góp phần khơi thông những điểm nghẽn, phát huy mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

(còn nữa)

Báo QĐND

Ảnh minh họa: baodautu.vn


Address

Xã Hoàn Long, Hưng Yên
Hung Yen

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hoàn Long Đổi Mới posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share