30/08/2026
[English below]
Cá nhám voi là loài cá lớn nhất đại dương. Một cá thể trưởng thành có thể dài hơn mười hai mét, nặng trên hai mươi tấn và, theo các ước tính hiện nay, sống gần một trăm năm, vậy mà dù đồ sộ đến thế, nó lại nằm trong số những loài vật hiền lành nhất biển khơi. Nó ăn bằng cách lọc: bơi chầm chậm sát mặt nước với chiếc miệng khổng lồ mở rộng, chắt lấy sinh vật phù du, các loài giáp xác nhỏ và cá qua lớp lưới mịn của những tấm lọc trong mang. Một con cá nhám voi đang kiếm ăn có thể đưa hàng nghìn lít nước biển qua cơ thể mỗi giờ, mà không lấy đi thứ gì lớn hơn đầu ngón tay.
Khác với phần lớn các loài cá mập vốn quẩn quanh gần đáy biển, cá nhám voi là loài sống tầng nổi, quen với vùng nước rộng. Chúng tụ họp tại khoảng một chục điểm kiếm ăn trên khắp thế giới, từ Tây Australia và Indonesia đến Belize, nhưng không nơi nào đông bằng vùng biển ngoài khơi Quintana Roo trên bán đảo Yucatán của Mexico. Ở đó, từ tháng Năm đến tháng Chín, các cuộc khảo sát trên không từng đếm được tới 420 cá thể trong một ngày, đàn cá nhám voi lớn nhất từng được ghi nhận, bị hấp dẫn bởi những đợt bùng phát sinh vật phù du và trứng cá theo mùa đủ giàu để nuôi chúng.
Loài này đi xa đến đâu chỉ được sáng tỏ sau nhiều năm theo dõi bằng vệ tinh, và có hai hành trình nổi bật. Hành trình đầu tiên thuộc về một cá thể cá cái tên Rio Lady, được gắn thẻ ở vùng biển Caribe của Mexico và theo dõi trong khoảng năm tháng khi nó bơi chừng 7.800 km ra giữa Đại Tây Dương, vượt qua Xích đạo, hướng về cụm đá hẻo lánh Saint Peter và Saint Paul nằm giữa Brazil và châu Phi, trước khi thẻ định vị rời ra. Các nhà nghiên cứu ngờ rằng nó đang mang thai và tìm ra vùng nước khơi để sinh con, dù chưa thể xác nhận. Quãng đường ấy về sau bị một con cái khác vượt qua: Anne, được gắn thẻ gần đảo Coiba của Panama năm 2011, có tín hiệu vệ tinh suốt 841 ngày khi nó băng qua toàn bộ Thái Bình Dương đến vùng biển gần rãnh Mariana. Hành trình khoảng 20.142 km ấy là chuyến di cư dài nhất từng được ghi nhận ở loài này, và nó đưa cá nhám voi vào hàng những kẻ chu du đại dương vĩ đại nhất, bên cạnh rùa da, cá voi xám và nhạn Bắc Cực.
Với một sinh vật to lớn đến vậy, cá nhám voi vẫn còn ít được biết đến một cách đáng kinh ngạc. Nó là loài động vật có xương sống không phải thú lớn nhất còn sống, nhưng cũng là một loài kín tiếng. Dù được khoa học mô tả lần đầu năm 1828, phải đến thập niên 1980 các nhà nghiên cứu mới nhận ra có thể tìm thấy chúng khá đều đặn tại một số điểm kiếm ăn nhất định. Ngay cả những nơi tụ họp ấy cũng chỉ kể một phần câu chuyện, bởi chúng gần như chỉ gồm cá con và cá đực trưởng thành. Những con cái đã trưởng thành và cá mới sinh phần lớn vắng mặt trong hồ sơ ghi nhận, và phần lớn cuộc đời loài này vẫn diễn ra ngoài tầm mắt chúng ta.
Một trong số ít ngoại lệ là đảo Darwin thuộc Galápagos, nơi dường như thu hút những con cái rất lớn và có vẻ đang mang thai. Địa điểm này hẻo lánh và khó nghiên cứu, và vì sao chúng ghé qua vẫn còn là ẩn số, bởi ở đó gần như chẳng có gì để ăn. Một giả thuyết thú vị cho rằng chúng đang định hướng. Những đợt phun trào núi lửa cổ xưa đã để lại lớp đáy biển quanh Darwin nhiễm từ, và cá nhám voi, giống nhiều loài sinh vật biển khác, dường như cảm nhận được từ trường Trái Đất. Những cú lặn sâu chúng thực hiện ở vùng biển này, trùng với nhịp biến thiên hằng ngày của cường độ từ trường hành tinh, có thể là cách chúng xác định vị trí của mình dựa trên một tấm bản đồ từ tính, như một sinh vật đang đọc chiếc la bàn được viết vào trong đá.
Chút ít điều ta biết về sinh học của chúng cũng không kém phần phi thường. Cá nhám voi đẻ con, và với số lượng khác thường: một con cái được đánh bắt tại Đài Loan vào thập niên 1990 mang trong bụng khoảng 300 bào thai. Giống các loài cá mập khác, nó vẫn tạo trứng, nhưng giữ trứng trong cơ thể cho đến khi nở, rồi sinh ra con non thay vì thả trứng xuống biển. Mỗi cá thể còn mang một hoa văn đốm trắng nhạt độc nhất như vân tay người, và các nhà nghiên cứu nay nhận diện từng con bằng một thuật toán so khớp hoa văn vốn được các nhà thiên văn tạo ra để lập bản đồ các vì sao, đối chiếu "chòm sao" trên sườn cá từ ảnh chụp do thợ lặn khắp nơi trên thế giới gửi về.
Những hiểu biết ngày một nhiều ấy lại đến cùng nỗi lo ngày một lớn. Năm 2016, cá nhám voi bị chuyển từ nhóm Sắp nguy cấp lên nhóm Nguy cấp trong Sách Đỏ IUCN, khi số lượng toàn cầu đã giảm hơn một nửa trong khoảng bảy mươi lăm năm, và mức suy giảm ở một số vùng thuộc Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương còn dốc hơn nữa. Những mối đe doạ lâu đời nhất cũng là những mối quen thuộc nhất. Từ lâu chúng đã bị săn lấy vây, lấy thịt và dầu, và dù việc đánh bắt này nay phần lớn là bất hợp pháp, nó vẫn tiếp diễn ở một số nơi, trong khi những con khác chết ngoài ý muốn, chết ngạt vì mắc phải lưới giăng cho các loài khác. Du lịch đã mang lại một phần bảo vệ, bởi một con cá còn sống thu hút du khách thì đáng giá hơn nhiều một con đã chết, nhưng lợi ích ấy mong manh: khi các đơn vị khai thác chen lấn hay quấy nhiễu con vật để chiều lòng khách trả tiền, chính ngành ấy lại làm hại những sinh vật nó phụ thuộc vào. Và như bao sinh vật biển khác, cá nhám voi giờ đây nuốt phải vi nhựa khi lọc nước biển, cùng những hợp chất độc hại mà các mảnh nhựa ấy mang theo.
Bên cạnh những mối đe dọa ấy, nay có thêm một hiểm họa bám theo cá nhám voi đến bất cứ nơi nào chúng đi. Loài này kiếm ăn ở tầng mặt và di chuyển qua những vùng biển tấp nập bậc nhất hành tinh, nên bị tàu đâm chết nhiều hơn so với ghi nhận, bởi một con cá nhám voi chết thường chìm xuống thay vì dạt vào bờ để được đếm. Năm 2022, một nhóm do Freya Womersley dẫn dắt đã tổng hợp lộ trình vệ tinh của gần 350 cá thể và phát hiện đường đi của chúng chồng lấn dày đặc với luồng tàu hàng và tàu chở dầu cỡ lớn. Một nghiên cứu thứ hai, dựa trên hơn 13.000 lượt quan sát do trên 75 nhà khoa học đóng góp, đã lập bản đồ 107 điểm tụ hội của cá nhám voi tại 26 quốc gia và chỉ ra những nơi tàu bè và cá va vào nhau nguy hiểm nhất, từ Mexico và Ecuador đến Oman, Malaysia và Philippines.
Một nghiên cứu thứ ba, công bố trên tạp chí Nature Climate Change năm 2024, bổ sung một cảnh báo dài hạn hơn. Khi đại dương ấm lên, cá nhám voi được dự báo sẽ dịch chuyển về vùng nước mát hơn, và khi làm vậy, chúng tiến vào những tuyến tàu đông đúc hơn. Trong kịch bản phát thải cao, nhóm nghiên cứu ước tính nguy cơ va chạm có thể tăng tới mười lăm nghìn lần vào năm 2100. Song các giải pháp họ mô phỏng lại khá khiêm tốn. Giảm tốc độ tàu khoảng ba phần tư khi đi qua các vùng sinh cảnh cốt lõi sẽ chỉ làm hành trình dài thêm chừng năm phần trăm, còn dịch tuyến ra cách các điểm trọng yếu chừng một chục hải lý chỉ thêm chưa đầy nửa phần trăm, mà cả hai cách đều cứu được nhiều con cá.
❓Chúng ta có thể làm gì:
Ngoài các tuyến hàng hải, nghiên cứu thêm vẫn là nền tảng chắc chắn nhất cho công tác bảo vệ, bởi càng hiểu rõ nơi loài này sinh sản, di cư và kiếm ăn, ta càng có thể bảo vệ những nơi ấy một cách chính xác. Vận động chống lại nạn buôn vây và thịt là điều quan trọng, cũng như việc lựa chọn những đơn vị du lịch đặt phúc lợi con vật lên trên lợi nhuận. Trên hết, bảo vệ một loài chẳng bận tâm đến biên giới sẽ đòi hỏi sự hợp tác vượt biên giới, bởi con cá kiếm ăn ngoài khơi một bờ biển, vài tháng sau có thể lại phụ thuộc vào vùng nước cách đó cả một đại dương.
Nhưng có một mối đe doạ khiến những người làm công tác phúc lợi động vật như chúng tôi trăn trở hơn cả. Ngày càng nhiều cá nhám voi bị bắt khỏi tự nhiên để cung ứng cho ngành công viên đại dương, nơi chúng buộc phải chấp nhận khẩu phần nhân tạo, vùng nước chật hẹp xử lý bằng hoá chất, tiếng ồn triền miên và sự hiện diện sát sạt của con người cùng những loài vật lạ. Đây là những sinh vật quen ngao du, với nhu cầu thể chất, hành vi và tâm lý phức tạp, và tuổi đời có thể kéo dài nhiều thập kỷ. Không một bể nuôi nào đáp ứng nổi những nhu cầu ấy, và nhiều con phải chịu stress, bệnh tật và cái chết yểu trong cảnh nuôi nhốt. Một con vật sinh ra để băng qua những đại dương không thuộc về một bể nước.
🌊 Nhân Ngày Quốc tế Cá Nhám Voi, lời tri ân xứng đáng nhất dành cho loài cá lớn nhất biển cả cũng là điều thiết thực nhất: giữ cho những đại dương mà nó băng qua đủ an toàn để con cá nhám voi tiếp theo cũng có thể băng qua.
INTERNATIONAL WHALE SHARK DAY
The whale shark is the largest fish in the sea. A mature adult can stretch beyond twelve metres, weigh more than twenty tonnes and, by current estimates, live for close to a century, and yet, for all its bulk, it is among the most harmless animals in the ocean. It feeds by filtration, cruising slowly near the surface with its enormous mouth agape and sieving plankton, small crustaceans and fish from the water through the fine mesh of pads inside its gills. A feeding whale shark can pass thousands of litres of seawater through its body in an hour, taking nothing from the sea larger than a fingertip.
Unlike most sharks, which keep close to the seabed, the whale shark is a pelagic animal, at home in the open water. It gathers at a dozen or so feeding grounds around the world, from Western Australia and Indonesia to Belize, though nowhere in such numbers as off Quintana Roo, on Mexico's Yucatán Peninsula. There, between May and September, aerial surveys have counted as many as 420 animals in a single day, the largest aggregation of the species ever recorded, drawn by seasonal blooms of plankton and fish eggs rich enough to sustain them.
Just how far these animals travel has emerged only through years of satellite tracking, and two journeys stand out. The first belongs to a female known as Rio Lady, tagged in the Mexican Caribbean and tracked for about five months as she swam roughly 7,800 kilometres out into the mid-Atlantic, past the Equator toward the remote Saint Peter and Saint Paul rocks between Brazil and Africa, before her tag came away. Researchers suspected she was pregnant and heading for open water to give birth, though they could not confirm it. Her distance was later eclipsed by another female, Anne, tagged off Panama's Coiba Island in 2011, whose transmitter reported for 841 days as she crossed the entire Pacific to waters near the Mariana Trench. That journey of about 20,142 kilometres is the longest migration recorded for the species, and it places the whale shark among the great ocean travellers, alongside the leatherback turtle, the grey whale and the Arctic tern.
For an animal so large, it remains remarkably little known. It is the biggest non-mammalian vertebrate alive, and also a secretive one. Though first described by science in 1828, it was not until the 1980s that researchers realised the animals could be found reliably at particular feeding sites. Even those gatherings tell only part of the story, for they are made up overwhelmingly of juveniles and adult males. Mature females and newborn pups are largely missing from the record, and much of the species' life is still lived beyond our sight.
One of the few exceptions is Darwin Island in the Galápagos, which appears to draw very large, apparently pregnant females. The site is remote and hard to study, and why the animals pass through it at all is unclear, since there is little there to eat. One intriguing theory is that they are navigating. Ancient volcanic eruptions have left the seabed around Darwin magnetically charged, and whale sharks, like a number of marine animals, seem able to sense the Earth's magnetic field. The deep dives they make in these waters, timed to the daily rhythm of the planet's shifting magnetic intensity, may be their way of fixing their position against a magnetic map, an animal reading a compass written into the rock.
What little we know of their biology is no less extraordinary. Whale sharks bear live young, and in unusual numbers: a single female landed in Taiwan in the 1990s was found to be carrying around 300 developing pups. Like other sharks, she produced eggs, but kept them within her body until they hatched, giving birth to live offspring rather than releasing eggs into the sea. Each animal is also marked with a pattern of pale spots as distinctive as a human fingerprint, and researchers now identify individuals using a pattern-matching method first devised by astronomers to map the stars, matching the constellations on a shark's flank from photographs sent in by divers around the world.
This growing knowledge has arrived alongside mounting concern. The whale shark was reclassified from Vulnerable to Endangered on the IUCN Red List in 2016, its global numbers having more than halved over roughly seventy-five years, with declines across parts of the Indo-Pacific steeper still. The oldest threats are the most familiar. The animal has long been hunted for its fins, and for its meat and oil, and although such fishing is now widely illegal it persists in places, while others die unintentionally, drowned as bycatch in nets set for different species. Tourism has offered a measure of protection, since a living shark that draws visitors is worth far more than a dead one, yet the benefit is a fragile one: where operators crowd or harass the animals to satisfy paying guests, the industry harms the very creatures it depends upon. And like so much marine life, whale sharks now ingest microplastics as they filter the sea, along with the toxic compounds those fragments carry.
To these has been added a danger that follows the whale shark wherever it goes. The animals feed at the surface and cross some of the busiest waters on the planet, so ships strike and kill them more often than the records suggest, since a dead whale shark tends to sink rather than wash ashore to be counted. In 2022, a team led by Freya Womersley pooled the satellite tracks of nearly 350 whale sharks and found their movements overlapping heavily with large cargo and tanker traffic. A second study, drawing on more than 13,000 sightings contributed by over 75 researchers, mapped 107 whale shark aggregation sites across 26 countries and pinpointed where that traffic and the sharks most dangerously coincide, from Mexico and Ecuador to Oman, Malaysia and the Philippines.
A third study, published in the journal Nature Climate Change in 2024, added a longer-term warning. As the ocean warms, whale sharks are expected to shift towards cooler water and, in doing so, move into busier shipping routes. Under a high-emissions scenario, the researchers estimate the risk of collision could rise as much as fifteen-thousand-fold by 2100. The remedies they modelled, though, are modest. Slowing ships by around three-quarters through core habitats would add roughly five per cent to their journey times, and routing them a dozen nautical miles clear of key sites barely half a per cent, yet either step would spare many animals.
Beyond the shipping lanes, more research remains the surest foundation for protection, because the better we understand where these animals breed, travel and feed, the more precisely those places can be safeguarded. Campaigning against the trade in fins and meat matters, as does choosing tour operators who put the animals' welfare before profit. Above all, protecting a species that pays no heed to borders will demand cooperation across them, for a shark feeding off one coast may depend, months later, on waters an ocean away.
There is one threat, though, that troubles us as animal welfare specialists more than any other. A growing number of whale sharks are being taken from the wild to supply the ocean park industry, where they are made to accept an artificial diet, confined waters treated with chemicals, constant noise and the close presence of people and unfamiliar animals. These are wide-ranging creatures with complex physical, behavioural and psychological needs, and lives that may span many decades. No tank can meet those needs, and many suffer stress, illness and an early death in captivity. An animal built to cross oceans does not belong in a pool.
On International Whale Shark Day, the most fitting tribute to the largest fish in the sea is a practical one: to keep the oceans it crosses safe enough that the next whale shark can cross them too.
📍Original article: Dave Neale, Global Programme Director, Animals Asia
✏Edited by ASWE department, Animals Asia
📌References:
1. Arzoumanian, Z., Holmberg, J., & Norman, B. (2005). An astronomical pattern-matching algorithm for computer-aided identification of whale sharks Rhincodon typus. Journal of Applied Ecology, 42(6), 999-1011. https://doi.org/10.1111/j.1365-2664.2005.01117.x
2. de la Parra Venegas, R., Hueter, R., González Cano, J., Tyminski, J., Gregorio Remolina, J., Maslanka, M., Ormos, A., Weigt, L., Carlson, B., & Dove, A. (2011). An unprecedented aggregation of whale sharks, Rhincodon typus, in Mexican coastal waters of the Caribbean Sea. PLoS ONE, 6(4), e18994. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0018994
3. Germanov, E. S., Marshall, A. D., Bejder, L., Fossi, M. C., & Loneragan, N. R. (2018). Microplastics: No small problem for filter-feeding megafauna. Trends in Ecology & Evolution, 33(4), 227-232. https://doi.org/10.1016/j.tree.2018.01.005
4. Guzmán, H. M., Gómez, C. G., Hearn, A., & Eckert, S. A. (2018). Longest recorded trans-Pacific migration of a whale shark (Rhincodon typus). Marine Biodiversity Records, 11, 8. https://doi.org/10.1186/s41200-018-0143-4
5. Hueter, R. E., Tyminski, J. P., & de la Parra, R. (2013). Horizontal movements, migration patterns, and population structure of whale sharks in the Gulf of Mexico and northwestern Caribbean Sea. PLoS ONE, 8(8), e71883. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0071883
6. Joung, S. J., Chen, C. T., Clark, E., Uchida, S., & Huang, W. Y. P. (1996). The whale shark, Rhincodon typus, is a livebearer: 300 embryos found in one 'megamamma' supreme. Environmental Biology of Fishes, 46(3), 219-223. https://doi.org/10.1007/BF00004997
7. Ong, J. J. L., Meekan, M. G., Hsu, H. H., Fanning, L. P., & Campana, S. E. (2020). Annual bands in vertebrae validated by bomb radiocarbon assays provide estimates of age and growth of whale sharks. Frontiers in Marine Science, 7, 188. https://doi.org/10.3389/fmars.2020.00188
8. Pierce, S. J., & Norman, B. (2016). Rhincodon typus. The IUCN Red List of Threatened Species 2016: e.T19488A2365291. https://doi.org/10.2305/IUCN.UK.2016-1.RLTS.T19488A2365291.en
9. Womersley, F. C., Humphries, N. E., Queiroz, N., Vedor, M., da Costa, I., Furtado, M., … Sims, D. W. (2022). Global collision-risk hotspots of marine traffic and the world's largest fish, the whale shark. Proceedings of the National Academy of Sciences, 119(20), e2117440119. https://doi.org/10.1073/pnas.2117440119
10. Womersley, F. C., Rohner, C. A., Abrantes, K., Afonso, P., … Araujo, G. (2024). Identifying priority sites for whale shark ship collision management globally. Science of the Total Environment, 934, 172776. https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2024.172776
11. Womersley, F. C., Sousa, L. L., Humphries, N. E., Abrantes, K., Araujo, G., Bach, S. S., … Sims, D. W. (2024). Climate-driven global redistribution of an ocean giant predicts increased threat from shipping. Nature Climate Change, 14, 1282-1291. https://doi.org/10.1038/s41558-024-02129-5
12. Galápagos Conservation Trust. (n.d.). Whale sharks. Retrieved 30 August 2026, from https://galapagosconservation.org.uk/whale-sharks/