Vì động vật - For Animals Vietnam

Vì động vật - For Animals Vietnam Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Vì động vật - For Animals Vietnam, Hanoi.
(1)

🐳Thân mời bạn ghé chơi!

🐝Nơi đây chúng mình chia sẻ những tri thức về phúc lợi động vật
🦉Mong được cùng bạn khám phá những điều kỳ diệu của sự sống
💗Nuôi dưỡng một trái tim giàu yêu thương
🌈Và lan tỏa lối sống chan hòa với Mẹ Thiên nhiên~

🌿🕊️🌏 🐳 Mừng bạn đến chơi nhà! 🐳

Ở đây chúng mình thiết đãi các vị khách quý những kiến thức và thông tin đa chiều về chủ đề phúc lợi động vật trong mối quan h

ệ với con người và thiên nhiên 🌏🌱

Mỗi sinh mệnh dù nhỏ bé hay to lớn đến đâu đều là đứa con của Mẹ Thiên Nhiên. Chúng mình hy vọng có thể lan tỏa những giá trị nhân văn và sự trân trọng dành cho tất cả các sinh mệnh trong mạng lưới sự sống trên Hành tinh xinh đẹp này!

Điều bạn làm sẽ tạo nên sự khác biệt, và chính bạn là người quyết định điều khác biệt nào bạn muốn mang đến cho thế giới 💚

Chúng mình sẽ rất vui khi có bạn đồng hành cùng đó! 💚💛💚

Thân mến,
Phòng Giáo dục và Truyền thông (PACE)
Tổ chức Động vật Châu Á (Animals Asia)

💢 BỘ CÔNG AN ĐÃ CHÍNH THỨC CHIA SẺ LIÊN QUAN ĐẾN TRƯỜNG HỢP CHÚ CHÓ BỊ BẠO HÀNH Ở ĐÀ LẠT Vụ chú chó Alaska bị đánh tại Q...
03/09/2026

💢 BỘ CÔNG AN ĐÃ CHÍNH THỨC CHIA SẺ LIÊN QUAN ĐẾN TRƯỜNG HỢP CHÚ CHÓ BỊ BẠO HÀNH Ở ĐÀ LẠT

Vụ chú chó Alaska bị đánh tại Quảng trường Lâm Viên (Đà Lạt) đã có diễn biến mới. Trang Facebook chính thức của Bộ Công an vừa xác nhận người đàn ông trong đoạn clip là ông T.V.L, 38 tuổi, trú tại TP.HCM. Ông thừa nhận đã dùng cây đánh chú chó của mình vì con vật "không thực hiện theo hiệu lệnh."

Sau khi làm việc với cơ quan chức năng, ông L. đã nhận thức rõ hành vi ngược đãi động vật là sai trái và vi phạm pháp luật. Công an phường Xuân Hương hiện đang củng cố hồ sơ để xử lý nghiêm theo quy định.

Chỉ trong một ngày, một đoạn clip do người dân quay lại đã đi từ mạng xã hội đến tận thông tin chính thức của Bộ Công an. Đó là sức mạnh của cộng đồng khi cùng lên tiếng. "Sự việc một lần nữa nhắc nhở về ý thức tôn trọng pháp luật và chấm dứt các hành vi bạo hành động vật.", theo bài viết của Bộ Công an.

Dù là thú cưng trong nhà hay bị đưa ra phục vụ nơi công cộng, mọi con vật đều xứng đáng được đối xử tử tế. Và mỗi lần chúng ta lên tiếng, cái sai lại càng khó có chỗ để tiếp diễn.

Xin cảm ơn các bạn đã lên tiếng vì những cá thể động vật không thể bảo vệ mình và một lối sống văn minh, có trách nhiệm và nhân đạo hơn với động vật.

CÔNG AN PHƯỜNG XUÂN HƯƠNG ĐÃ LÊN TIẾNG: KHÔNG CHỤP, KHÔNG THUÊ, KHÔNG TIẾP TAYNgay sau khi vụ việc lan truyền, Công an p...
03/09/2026

CÔNG AN PHƯỜNG XUÂN HƯƠNG ĐÃ LÊN TIẾNG: KHÔNG CHỤP, KHÔNG THUÊ, KHÔNG TIẾP TAY

Ngay sau khi vụ việc lan truyền, Công an phường Xuân Hương (Đà Lạt) đã phát đi thông điệp gửi tới du khách và cộng đồng: "không chụp ảnh, không thuê, không tiếp tay" cho các dịch vụ có dấu hiệu bạo hành động vật như vậy. Khi không còn ai trả tiền, cũng sẽ không còn lý do để đưa thú cưng ra "phục vụ" dưới áp lực.

Chúng tôi xin cảm ơn tất cả mọi người, cùng rất nhiều trang mạng xã hội khác, đã lên tiếng, chia sẻ và phản ánh trong ngày qua. Tiếng nói của cộng đồng đã được lắng nghe và số phận của chú chó có thể được thay đổi tích cực hơn.

Việc cơ quan chức năng vào cuộc là một tín hiệu đáng ghi nhận. Nhưng để những hình thức khai thác động vật vì mục đích chụp ảnh, giải trí không còn tái diễn, thay đổi thật sự vẫn cần đến lựa chọn của mỗi người.

Và lựa chọn đó có thể rất đơn giản: không trả tiền cho những dịch vụ bắt động vật phải chịu đựng để phục vụ nhu cầu giải trí, chụp ảnh của con người.

Khi cộng đồng nói không, thị trường cho việc khai thác động vật cũng sẽ dần thu hẹp.

02/09/2026

MỘT CHÚ CHÓ LẠI BỊ ĐÁNH GIỮA QUẢNG TRƯỜNG LÂM VIÊN - ĐÀ LẠT

Sáng 2/9, một đoạn clip lan truyền trên mạng xã hội ghi lại cảnh một chú chó bị người đàn ông đánh ngay giữa Quảng trường Lâm Viên (Đà Lạt, Lâm Đồng). Theo người quay clip, con vật bị đánh vì "không hợp tác" với dịch vụ chụp ảnh cùng du khách. Thông tin chưa được cơ quan chức năng xác minh, song một lần nữa khiến cộng đồng phẫn nộ.

Đáng nói, đây không phải lần đầu. Cũng tại quảng trường này, tháng 8/2024, một chú chó Alaska trong dịch vụ chụp ảnh đã bị đánh dã man, làm dấy lên làn sóng tẩy chay, buộc chính quyền vào cuộc. Hai vụ việc, cùng một địa điểm, cho thấy vấn đề không nằm ở một cá nhân nóng giận tức thời với chú chó, mà ở chính mô hình biến động vật thành công cụ mưu sinh.

Dưới góc nhìn phúc lợi động vật, một con chó bị buộc tiếp xúc với hàng trăm người lạ mỗi ngày, giữa tiếng ồn, ánh đèn và những cái ôm ép buộc, phải chịu áp lực tâm lý kéo dài. Cái mà con người gọi là "không hợp tác" thường chỉ là dấu hiệu của sợ hãi và mệt mỏi, điều khoa học hành vi đã nói đến từ lâu. Đánh một con vật đang phát tín hiệu như vậy thì không thể gọi là dạy dỗ; đó là bạo hành.

Về pháp lý, hành vi này không nằm ngoài vòng điều chỉnh. Khoản 1 Điều 29 Nghị định 14/2021/NĐ-CP quy định phạt từ 1 đến 3 triệu đồng với cá nhân đánh đập, hành hạ tàn nhẫn vật nuôi, trong đó chó mèo thuộc phạm vi áp dụng. Việc quản lý chó cũng vừa được siết thêm: từ ngày 1/8/2026, Nghị định 204/2026/NĐ-CP nâng mức phạt với hành vi thả rông, không rọ mõm, không xích giữ nơi công cộng hay không tiêm phòng dại lên tới 2 triệu đồng, gấp khoảng 2,5 lần trước đây.

Vấn đề, vì thế, nằm ở chỗ là mức phạt còn quá nhẹ so với một hành vi bạo lực công khai, và hiếm khi được áp dụng trên thực tế. Đa số những sự việc chỉ thực sự bị xử lý khi bị cộng đồng lên án gay gắt, có nguy cơ ảnh hưởng đến hình ảnh của địa phương. Vụ việc bạo hành động vật năm 2024 tại công viên này, lực lượng chức năng đã xử phạt một số trường hợp. Hệ thống pháp luật của chúng ta cũng cần có thêm các quy định chi tiết cho hoạt động sử dụng động vật trong du lịch, giải trí.

Lấp khoảng trống ấy cần quy định riêng, chế tài đủ sức răn đe với hành vi ngược đãi. Nhưng thay đổi nhanh nhất vẫn nằm trong tay du khách. Mỗi lần một người từ chối trả tiền để chụp ảnh cùng một con vật bị ép phục vụ, dịch vụ ấy lại mất đi một phần lý do để tồn tại.

Đà Lạt đẹp bởi thiên nhiên và bởi sự tử tế. Hình ảnh ấy rất dễ bị ảnh hưởng bởi những hành động chưa đẹp của một số cá nhân đối xử chưa tốt với động vật.

Nguồn: Mộng Thúy Quỳnh



🐶🐕🐩

NGÀY QUỐC TẾ LINH TRƯỞNG Nhân Ngày Quốc tế Linh trưởng 1/9, FAV muốn kể một câu chuyện về tình trạng xung đột giữa người...
01/09/2026

NGÀY QUỐC TẾ LINH TRƯỞNG

Nhân Ngày Quốc tế Linh trưởng 1/9, FAV muốn kể một câu chuyện về tình trạng xung đột giữa người và khỉ đang lan rộng ở châu Á và tại Việt Nam. Ai mới thật sự lấn vào lãnh thổ của ai?

Giữa trưa, ở rìa một thị trấn nơi phố xá gặp bìa rừng, một con khỉ vàng ngồi trên mái tôn, mắt dõi theo túi thức ăn trong tay một du khách. Chỉ trong tích tắc, nó lao xuống, giật lấy chiếc túi rồi biến mất lên tán cây, để lại một tiếng la và một nỗi sợ. Với người vừa bị giật đồ, đó là một con vật hung hãn. Với con khỉ, đó là một bữa ăn mà chính con người đã dạy nó cách lấy.

Cảnh tượng ấy lặp lại ở đền chùa, khu du lịch và vùng ven đô khắp châu Á, và ngày càng nhiều tại Việt Nam. Đây là gương mặt của xung đột người–linh trưởng, một trong những bài toán phúc lợi động vật nan giải nhất hiện nay. Nhân Ngày Quốc tế Linh trưởng, nó buộc chúng ta xem lại một giả định quen thuộc rằng con khỉ là kẻ xâm phạm. Phần lớn thời gian, sự thật ngược lại.

Khỉ vàng và khỉ đuôi dài thuộc nhóm linh trưởng thích nghi giỏi nhất với cảnh quan của con người. Khi rừng bị thu hẹp và chia cắt, chúng bị đẩy tới sát khu dân cư, và khi ở đó có sẵn thức ăn dễ kiếm, chúng ở lại. Nhiều năm nghiên cứu tại các điểm du lịch đã chỉ ra thủ phạm chính của phần lớn các vụ va chạm là việc con người cho khỉ ăn. Tại công viên Shou-Shan ở Đài Loan, Hsu và cộng sự (2009) ghi nhận rằng việc du khách mang theo và đưa thức ăn làm gia tăng rõ rệt hành vi hung hăng của khỉ. Một nghiên cứu so sánh ba loài khỉ năm 2020 còn cho thấy con đực dùng chính sự hung hăng như một chiến lược để giành nguồn thức ăn giàu năng lượng của con người (Balasubramaniam và cộng sự, Scientific Reports). Cái ta gọi là "hung dữ" phần lớn là hành vi học được.

Để thấy vì sao điều này quan trọng, cần nhìn con khỉ với đúng bản ngã của chúng. Khỉ sống trong những xã hội có thứ bậc phức tạp, nhận ra từng cá thể, và dành phần lớn cuộc đời để gìn giữ các mối quan hệ. Sau khi đánh nhau, chúng biết làm hòa bằng cách chải lông và ôm nhau, hành vi mà giới linh trưởng học đã ghi nhận ở hàng chục loài kể từ công trình của de Waal và van Roosmalen (1979). Các loài vượn lớn, họ hàng gần của chúng, thậm chí hiểu được rằng kẻ khác có thể mang một niềm tin sai lệch (Krupenye và cộng sự, 2016). Con vật vừa giật túi đồ ăn là một sinh vật biết sợ, biết căng thẳng và biết học, đang xoay xở trong một môi trường do con người dựng nên.

Cái giá của xung đột, vì thế, rơi nặng nhất lên con khỉ. Khi bị coi là mối phiền toái, chúng thường bị bẫy, bị bắn, hoặc bị bắt rồi nhốt trong những chiếc lồng chật. Việc cho ăn cũng âm thầm bào mòn sức khỏe của chúng: khẩu phần toàn đồ ngọt và tinh bột gây béo phì cùng bệnh răng miệng, còn việc tụ tập quanh nguồn thức ăn nhân tạo làm tăng nguy cơ lây bệnh. Riêng khỉ macaca, có nguy cơ mang virus herpes B, thứ có thể gây tử vong ở người nếu không được điều trị kịp thời; một vết cắn từ con khỉ quen được cho ăn là đủ để lây nhiễm(CDC).

Khi một con khỉ bị gọi là 'hung dữ', chúng ta hiếm khi hỏi nó đã học điều đó từ đâu. Nếu nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, câu trả lời gần như luôn nằm ở phía con người. Xử lý xung đột không phải là loại bỏ con khỉ, mà là thay đổi hành vi của chính chúng ta.

Nghịch lý nằm ở chỗ ngay cả loài bị than phiền là "quá nhiều" cũng đang suy giảm ngoài tự nhiên. Năm 2022, khỉ đuôi dài bị nâng lên bậc Nguy cấp trong Danh lục Đỏ của IUCN, phần lớn do bị khai thác cho ngành nghiên cứu. Con khỉ ở rìa thị trấn mà chúng ta nhắc đến ở đầu bài viết không phải dấu hiệu của sự gia tăng đột biến quần thể, mà là hệ quả của những khu rừng đang mất đi, trực tiếp khiến vùng sinh sống của khỉ phải mở rộng ra khu vực con người sinh sống.

Xung đột này do con người tạo ra, nên con người cũng có thể tháo gỡ. Ở những nơi ngừng cho khỉ ăn, quản lý rác chặt chẽ và giữ lại vùng sinh cảnh, căng thẳng giữa hai phía giảm rõ.

Phần việc của mỗi người không phức tạp. Đừng cho khỉ ăn, dù chỉ một lần, bởi mỗi lần cho ăn là một bài học đẩy con vật tới gần rắc rối hơn. Đừng trêu, đừng nhìn thẳng vào mắt hay dồn chúng vào góc. Đừng lan truyền những video "khỉ giật đồ" như một trò vui, vì chúng bình thường hóa chính cái hành vi đang khiến khỉ bị giết. Mọi loài linh trưởng đều xứng đáng được sống trong tự do và bình yên, và điều đó không đòi hỏi ở mỗi người một hành động phi thường, chỉ cần đủ nhiều hành động tử tế nhỏ cộng lại.



✏: Phòng ASWE, Animals Asia

📌Nguồn tham khảo:

1. Balasubramaniam, K. N., et al. (2020). Impact of individual demographic and social factors on human–wildlife interactions: A comparative study of three macaque species. Scientific Reports, 10, 21991. https://doi.org/10.1038/s41598-020-78881-3

2. Hansen, MF; et al. (2022). Macaca fascicularis (amended version of 2022 assessment). The IUCN Red List of Threatened Species, 2022, e.T12551A221666136. https://doi.org/10.2305/IUCN.UK.2022-2.RLTS.T12551A221666136.en

3. Hsu, M. J., Kao, C.-C., & Agoramoorthy, G. (2009). Interactions between visitors and Formosan macaques (Macaca cyclopis) at Shou-Shan Nature Park, Taiwan. American Journal of Primatology, 71(3), 214–222. https://doi.org/10.1002/ajp.20638

4. Krupenye, C., Kano, F., Hirata, S., Call, J., & Tomasello, M. (2016). Great apes anticipate that other individuals will act according to false beliefs. Science, 354(6308), 110–114. https://doi.org/10.1126/science.aaf8110

Kết thúc tháng 8 bằng một bài viết thật nhiều trăn trởVÌ SAO CHÚNG TA XÓT XA KHI THẤY XE CHỞ CHÓ, NHƯNG LẠI BÌNH THẢN TR...
31/08/2026

Kết thúc tháng 8 bằng một bài viết thật nhiều trăn trở

VÌ SAO CHÚNG TA XÓT XA KHI THẤY XE CHỞ CHÓ, NHƯNG LẠI BÌNH THẢN TRƯỚC XE CHỞ LỢN, CHỞ GÀ?

Cùng là những sinh vật biết đau và biết sợ, nhưng phản ứng của chúng ta lại rất khác nhau tùy vào việc con vật ấy thuộc loài nào. Câu trả lời nói ít về loài vật, và nói nhiều về chính cách con người hình thành lòng trắc ẩn.

Sau bài viết về chuyến xe nghi chở chó trên đường đi tiêu thụ gần đây, nhiều độc giả đặt một câu hỏi thẳng thắn rằng: Nếu quan tâm đến động vật, vì sao chỉ thấy lên tiếng cho chó, mèo mà ít khi nhắc đến lợn, gà hay những loài được nuôi để làm thực phẩm? Đây là một câu hỏi xác đáng, và nó xứng đáng có một câu trả lời nghiêm túc thay vì né tránh.

Câu hỏi ấy thật ra không chỉ nói về chó hay lợn, mà gián tiếp nói về cách con người hình thành sự đồng cảm, và về việc chúng ta dựa vào đâu để quyết định con vật nào đáng được xót thương.

Nếu thước đo là khả năng chịu đựng, không có lý do khoa học nào để xếp con chó lên trên con lợn. Năm 2012, tại Đại học Cambridge, một nhóm nhà thần kinh học đã cùng ký vào Tuyên bố Cambridge về Ý thức, khẳng định rằng các loài động vật có vú, chim và nhiều loài khác đều sở hữu những nền tảng thần kinh của ý thức và cảm xúc. Nói cách khác, năng lực cảm nhận đau đớn, sợ hãi hay dễ chịu không phải là đặc quyền của riêng loài nào.

Với loài lợn, bằng chứng còn cụ thể hơn. Các tổng quan nghiên cứu về nhận thức ở lợn cho thấy chúng có trí nhớ dài hạn, biết định hướng trong mê cung, phản ứng với cảm xúc của đồng loại, và thậm chí có những nét tính cách riêng giữa từng cá thể. Một con lợn bị nhốt chật, hay một con gà bị treo ngược trên đường tới lò mổ, xét về trải nghiệm khổ đau, không hề nhẹ hơn con chó trên thùng xe mà chúng ta vừa bàn tới. Chúng tôi cũng không nghĩ khác đi.

Vậy nên nếu câu hỏi là "phải chăng các bạn coi trọng chó hơn các loài khác", câu trả lời thành thật là KHÔNG. Chúng tôi dựa trên một nguyên tắc đặt mọi loài lên cùng một mặt bằng, chính là khả năng tri giác (sentience). Một sinh vật đã có thể cảm nhận, thì nỗi đau của nó đáng được tính đến, bất kể nó thuộc loài nào, được nuôi vì mục đích gì, hay được con người gọi bằng cái tên nào.

Khoảng cách trong cách xã hội đối xử với chó và với lợn, gà hay các loài không phải là điều chúng tôi lảng tránh. Ngược lại, đó chính là một phần của vấn đề mà lĩnh vực phúc lợi động vật muốn nói đến. Nếu bạn để ý, chúng tôi cũng từng lên tiếng qua các chuỗi bài viết về từng lĩnh vực như khả năng tri giác của côn trùng, động vật trang trại, động vật hoang dã hay những cách can thiệp tiêu cực của con người tới con vật.

Việc con người gán giá trị đạo đức khác nhau cho các loài dựa trên mức độ gần gũi về văn hóa, thay vì dựa trên năng lực cảm nhận của chúng, được giới nghiên cứu gọi là "phân biệt loài" (speciesism). Thuật ngữ này xuất hiện từ đầu thập niên 1970 và đã trở thành một khái niệm trung tâm của đạo đức học động vật. Ở bài viết ngày 29/08, chúng tôi cũng có bàn luận về chủ đề này.

Vậy điều gì tạo nên sự phân biệt ấy? Câu trả lời nằm ở chính chúng ta.

Yếu tố đầu tiên là văn hóa:

Ở phần lớn các xã hội, chó được xếp vào nhóm động vật đồng hành, còn lợn, bò, gà thuộc nhóm vật nuôi lấy thịt. Cách phân loại này không đến từ tự nhiên, mà là sản phẩm của lịch sử, tôn giáo, kinh tế và tập quán, và nó đổi khác tùy nơi. Ở quốc gia này, con ngựa là động vật được bảo vệ; ở quốc gia khác, nó là một món ăn. Con bò được tôn kính trong nền văn hóa này (Ấn Độ Giáo) nhưng lại là thực phẩm phổ biến ở nơi khác. Chính sự khác biệt đó cho thấy ranh giới giữa "thú cưng" và "thực phẩm" do con người dựng lên, chứ không phải một quy luật cố định của muôn loài.

Nhà tâm lý học xã hội Melanie Joy gọi hệ niềm tin vô hình khiến ta yêu loài này mà ăn loài kia là "carnism". Điều đáng chú ý ở carnism là nó vận hành rất lặng lẽ. Chúng ta lớn lên trong một môi trường đã sắp sẵn ranh giới ấy, và hiếm khi dừng lại để hỏi vì sao nó lại nằm ở đó.

Yếu tố thứ hai là sự quen thuộc:

Những gì con người tiếp xúc lặp đi lặp lại sẽ dần mất đi sức nặng cảm xúc. Hình ảnh xe chở gia súc, gia cầm đã trở thành một mắt xích quen mắt trong chuỗi cung ứng thực phẩm, quen đến mức nhiều người không còn nhìn thấy những cá thể đang thở trong từng chiếc lồng. Một chiếc xe chở chó thì ngược lại, nó phá vỡ trật tự quen thuộc đó, và chính sự bất thường ấy buộc người ta phải dừng lại và nhìn.

Tâm lý học có tên gọi cho điều này là nghịch lý thịt (meat paradox). Con người có thể YÊU QUÝ ĐỘNG VẬT và ghê sợ nỗi đau của chúng, nhưng VẪN ĂN THỊT. Đây là hiện tượng đã được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Các công trình từ năm 2010 cho thấy, để làm dịu mâu thuẫn giữa giá trị và hành vi, tâm trí con người có xu hướng vô thức hạ thấp năng lực cảm nhận của những loài bị dán nhãn "để ăn", tin rằng chúng ít biết đau hơn. Đây không phải sự giả tạo có chủ đích, mà là một cơ chế tự vệ tâm lý khá phổ biến. Hiểu được nó, chúng ta cũng bớt vội vàng phán xét lẫn nhau.

Thừa nhận một cơ chế tâm lý không đồng nghĩa với việc gỡ bỏ trách nhiệm đạo đức. Dù mỗi người chọn ăn chay, ăn mặn, hay đứng ở bất kỳ đâu giữa hai lựa chọn ấy, có một nguyên tắc ngày càng được giới khoa học và phúc lợi động vật đồng thuận: một khi đã sử dụng động vật cho bất kỳ mục đích nào, con người có nghĩa vụ giảm đến mức thấp nhất những đau đớn, sợ hãi và căng thẳng mà chúng phải chịu.

Đó là lý do các tiêu chuẩn phúc lợi động vật ngày càng được coi trọng, từ điều kiện nuôi nhốt, cách thức vận chuyển, cho tới phương pháp gây ngất và giết mổ ít gây đau đớn. Những khung đánh giá như Mô hình Năm Lĩnh vực nhìn một con vật trên nhiều phương diện cùng lúc: cái ăn, môi trường sống, sức khỏe thể chất, khả năng thể hiện hành vi tự nhiên và trạng thái tinh thần. Trọng tâm của phúc lợi động vật, vì thế, không nằm ở việc xếp hạng loài nào đáng thương hơn, mà ở chỗ thừa nhận rằng mọi động vật có tri giác đều xứng đáng được đối xử tử tế nhất trong điều kiện thực tế cho phép.

Ở Việt Nam, tinh thần này đã bước đầu đi vào luật. Luật Chăn nuôi 2018 lần đầu tiên đưa nguyên tắc đối xử nhân đạo với vật nuôi vào văn bản pháp luật, bao trùm cả quá trình nuôi dưỡng, vận chuyển và giết mổ, và không loại trừ loài nào. Nói cách khác, con lợn trên đường tới lò mổ và con chó trong chiếc lồng trên quốc lộ, dưới con mắt của pháp luật, cùng thuộc về một nguyên tắc.

Khoa học không phán xét ai nên ăn gì. Nhưng nó nhắc ta một điều khó chối bỏ, chính là khả năng cảm nhận đau đớn không phụ thuộc vào việc con vật được gọi là "thú cưng" hay "vật nuôi lấy thịt".

Có lẽ vì vậy, mục tiêu của phúc lợi động vật chưa bao giờ là buộc tất cả mọi người phải nghĩ giống nhau hay sống giống nhau. Điều chúng tôi mong muốn là mỗi quyết định của con người, dù trong chăn nuôi, tiêu dùng hay chăm sóc động vật, đều được đưa ra với nhiều hiểu biết hơn, nhiều trách nhiệm hơn và nhiều lòng trắc ẩn hơn.

Nếu bài viết này để lại một điều để suy ngẫm, chúng tôi hy vọng đó không phải là câu hỏi "Loài nào đáng được yêu thương hơn?", mà là "Liệu lòng trắc ẩn của chúng ta có nên thay đổi chỉ vì giá trị của một loài?"



✏️Biên tập: Phòng ASWE, Animals Asia

📌 Tài liệu tham khảo trích dẫn:

1. Low, P. (2012). The Cambridge Declaration on Consciousness. Tuyên bố công bố tại Hội nghị Francis Crick Memorial về Ý thức ở Động vật Người và Phi Người, Đại học Cambridge, ngày 7 tháng 7 năm 2012.

2. Marino, L., & Colvin, C. M. (2015). Thinking pigs: A comparative review of cognition, emotion, and personality in Sus domesticus. International Journal of Comparative Psychology, 28.

3. Loughnan, S., Haslam, N., & Bastian, B. (2010). The role of meat consumption in the denial of moral status and mind to meat animals. Appetite, 55(1), 156–159. https://doi.org/10.1016/j.appet.2010.05.043

4. Bastian, B., Loughnan, S., Haslam, N., & Radke, H. R. M. (2012). Don't mind meat? The denial of mind to animals used for human consumption. Personality and Social Psychology Bulletin, 38(2), 247–256. https://doi.org/10.1177/0146167211424291

5. Mellor, D. J., Beausoleil, N. J., Littlewood, K. E., McLean, A. N., McGreevy, P. D., Jones, B., & Wilkins, C. (2020). The 2020 Five Domains Model: Including human–animal interactions in assessments of animal welfare. Animals, 10(10), 1870. https://doi.org/10.3390/ani10101870

6. Joy, M. (2010). Why We Love Dogs, Eat Pigs, and Wear Cows: An Introduction to Carnism. Conari Press. Tác phẩm giới thiệu khái niệm "carnism".

7. Khái niệm "phân biệt loài" (speciesism) được Richard D. Ryder đưa ra năm 1970 và được Peter Singer phổ biến qua Animal Liberation (1975).

8. Luật Chăn nuôi 2018 (Luật số 32/2018/QH14), Điều 69–71 về đối xử nhân đạo với vật nuôi trong chăn nuôi, vận chuyển và giết mổ; chó, mèo thuộc phạm vi điều chỉnh.

[English below]Cá nhám voi là loài cá lớn nhất đại dương. Một cá thể trưởng thành có thể dài hơn mười hai mét, nặng trên...
30/08/2026

[English below]

Cá nhám voi là loài cá lớn nhất đại dương. Một cá thể trưởng thành có thể dài hơn mười hai mét, nặng trên hai mươi tấn và, theo các ước tính hiện nay, sống gần một trăm năm, vậy mà dù đồ sộ đến thế, nó lại nằm trong số những loài vật hiền lành nhất biển khơi. Nó ăn bằng cách lọc: bơi chầm chậm sát mặt nước với chiếc miệng khổng lồ mở rộng, chắt lấy sinh vật phù du, các loài giáp xác nhỏ và cá qua lớp lưới mịn của những tấm lọc trong mang. Một con cá nhám voi đang kiếm ăn có thể đưa hàng nghìn lít nước biển qua cơ thể mỗi giờ, mà không lấy đi thứ gì lớn hơn đầu ngón tay.

Khác với phần lớn các loài cá mập vốn quẩn quanh gần đáy biển, cá nhám voi là loài sống tầng nổi, quen với vùng nước rộng. Chúng tụ họp tại khoảng một chục điểm kiếm ăn trên khắp thế giới, từ Tây Australia và Indonesia đến Belize, nhưng không nơi nào đông bằng vùng biển ngoài khơi Quintana Roo trên bán đảo Yucatán của Mexico. Ở đó, từ tháng Năm đến tháng Chín, các cuộc khảo sát trên không từng đếm được tới 420 cá thể trong một ngày, đàn cá nhám voi lớn nhất từng được ghi nhận, bị hấp dẫn bởi những đợt bùng phát sinh vật phù du và trứng cá theo mùa đủ giàu để nuôi chúng.

Loài này đi xa đến đâu chỉ được sáng tỏ sau nhiều năm theo dõi bằng vệ tinh, và có hai hành trình nổi bật. Hành trình đầu tiên thuộc về một cá thể cá cái tên Rio Lady, được gắn thẻ ở vùng biển Caribe của Mexico và theo dõi trong khoảng năm tháng khi nó bơi chừng 7.800 km ra giữa Đại Tây Dương, vượt qua Xích đạo, hướng về cụm đá hẻo lánh Saint Peter và Saint Paul nằm giữa Brazil và châu Phi, trước khi thẻ định vị rời ra. Các nhà nghiên cứu ngờ rằng nó đang mang thai và tìm ra vùng nước khơi để sinh con, dù chưa thể xác nhận. Quãng đường ấy về sau bị một con cái khác vượt qua: Anne, được gắn thẻ gần đảo Coiba của Panama năm 2011, có tín hiệu vệ tinh suốt 841 ngày khi nó băng qua toàn bộ Thái Bình Dương đến vùng biển gần rãnh Mariana. Hành trình khoảng 20.142 km ấy là chuyến di cư dài nhất từng được ghi nhận ở loài này, và nó đưa cá nhám voi vào hàng những kẻ chu du đại dương vĩ đại nhất, bên cạnh rùa da, cá voi xám và nhạn Bắc Cực.

Với một sinh vật to lớn đến vậy, cá nhám voi vẫn còn ít được biết đến một cách đáng kinh ngạc. Nó là loài động vật có xương sống không phải thú lớn nhất còn sống, nhưng cũng là một loài kín tiếng. Dù được khoa học mô tả lần đầu năm 1828, phải đến thập niên 1980 các nhà nghiên cứu mới nhận ra có thể tìm thấy chúng khá đều đặn tại một số điểm kiếm ăn nhất định. Ngay cả những nơi tụ họp ấy cũng chỉ kể một phần câu chuyện, bởi chúng gần như chỉ gồm cá con và cá đực trưởng thành. Những con cái đã trưởng thành và cá mới sinh phần lớn vắng mặt trong hồ sơ ghi nhận, và phần lớn cuộc đời loài này vẫn diễn ra ngoài tầm mắt chúng ta.

Một trong số ít ngoại lệ là đảo Darwin thuộc Galápagos, nơi dường như thu hút những con cái rất lớn và có vẻ đang mang thai. Địa điểm này hẻo lánh và khó nghiên cứu, và vì sao chúng ghé qua vẫn còn là ẩn số, bởi ở đó gần như chẳng có gì để ăn. Một giả thuyết thú vị cho rằng chúng đang định hướng. Những đợt phun trào núi lửa cổ xưa đã để lại lớp đáy biển quanh Darwin nhiễm từ, và cá nhám voi, giống nhiều loài sinh vật biển khác, dường như cảm nhận được từ trường Trái Đất. Những cú lặn sâu chúng thực hiện ở vùng biển này, trùng với nhịp biến thiên hằng ngày của cường độ từ trường hành tinh, có thể là cách chúng xác định vị trí của mình dựa trên một tấm bản đồ từ tính, như một sinh vật đang đọc chiếc la bàn được viết vào trong đá.

Chút ít điều ta biết về sinh học của chúng cũng không kém phần phi thường. Cá nhám voi đẻ con, và với số lượng khác thường: một con cái được đánh bắt tại Đài Loan vào thập niên 1990 mang trong bụng khoảng 300 bào thai. Giống các loài cá mập khác, nó vẫn tạo trứng, nhưng giữ trứng trong cơ thể cho đến khi nở, rồi sinh ra con non thay vì thả trứng xuống biển. Mỗi cá thể còn mang một hoa văn đốm trắng nhạt độc nhất như vân tay người, và các nhà nghiên cứu nay nhận diện từng con bằng một thuật toán so khớp hoa văn vốn được các nhà thiên văn tạo ra để lập bản đồ các vì sao, đối chiếu "chòm sao" trên sườn cá từ ảnh chụp do thợ lặn khắp nơi trên thế giới gửi về.

Những hiểu biết ngày một nhiều ấy lại đến cùng nỗi lo ngày một lớn. Năm 2016, cá nhám voi bị chuyển từ nhóm Sắp nguy cấp lên nhóm Nguy cấp trong Sách Đỏ IUCN, khi số lượng toàn cầu đã giảm hơn một nửa trong khoảng bảy mươi lăm năm, và mức suy giảm ở một số vùng thuộc Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương còn dốc hơn nữa. Những mối đe doạ lâu đời nhất cũng là những mối quen thuộc nhất. Từ lâu chúng đã bị săn lấy vây, lấy thịt và dầu, và dù việc đánh bắt này nay phần lớn là bất hợp pháp, nó vẫn tiếp diễn ở một số nơi, trong khi những con khác chết ngoài ý muốn, chết ngạt vì mắc phải lưới giăng cho các loài khác. Du lịch đã mang lại một phần bảo vệ, bởi một con cá còn sống thu hút du khách thì đáng giá hơn nhiều một con đã chết, nhưng lợi ích ấy mong manh: khi các đơn vị khai thác chen lấn hay quấy nhiễu con vật để chiều lòng khách trả tiền, chính ngành ấy lại làm hại những sinh vật nó phụ thuộc vào. Và như bao sinh vật biển khác, cá nhám voi giờ đây nuốt phải vi nhựa khi lọc nước biển, cùng những hợp chất độc hại mà các mảnh nhựa ấy mang theo.

Bên cạnh những mối đe dọa ấy, nay có thêm một hiểm họa bám theo cá nhám voi đến bất cứ nơi nào chúng đi. Loài này kiếm ăn ở tầng mặt và di chuyển qua những vùng biển tấp nập bậc nhất hành tinh, nên bị tàu đâm chết nhiều hơn so với ghi nhận, bởi một con cá nhám voi chết thường chìm xuống thay vì dạt vào bờ để được đếm. Năm 2022, một nhóm do Freya Womersley dẫn dắt đã tổng hợp lộ trình vệ tinh của gần 350 cá thể và phát hiện đường đi của chúng chồng lấn dày đặc với luồng tàu hàng và tàu chở dầu cỡ lớn. Một nghiên cứu thứ hai, dựa trên hơn 13.000 lượt quan sát do trên 75 nhà khoa học đóng góp, đã lập bản đồ 107 điểm tụ hội của cá nhám voi tại 26 quốc gia và chỉ ra những nơi tàu bè và cá va vào nhau nguy hiểm nhất, từ Mexico và Ecuador đến Oman, Malaysia và Philippines.

Một nghiên cứu thứ ba, công bố trên tạp chí Nature Climate Change năm 2024, bổ sung một cảnh báo dài hạn hơn. Khi đại dương ấm lên, cá nhám voi được dự báo sẽ dịch chuyển về vùng nước mát hơn, và khi làm vậy, chúng tiến vào những tuyến tàu đông đúc hơn. Trong kịch bản phát thải cao, nhóm nghiên cứu ước tính nguy cơ va chạm có thể tăng tới mười lăm nghìn lần vào năm 2100. Song các giải pháp họ mô phỏng lại khá khiêm tốn. Giảm tốc độ tàu khoảng ba phần tư khi đi qua các vùng sinh cảnh cốt lõi sẽ chỉ làm hành trình dài thêm chừng năm phần trăm, còn dịch tuyến ra cách các điểm trọng yếu chừng một chục hải lý chỉ thêm chưa đầy nửa phần trăm, mà cả hai cách đều cứu được nhiều con cá.

❓Chúng ta có thể làm gì:

Ngoài các tuyến hàng hải, nghiên cứu thêm vẫn là nền tảng chắc chắn nhất cho công tác bảo vệ, bởi càng hiểu rõ nơi loài này sinh sản, di cư và kiếm ăn, ta càng có thể bảo vệ những nơi ấy một cách chính xác. Vận động chống lại nạn buôn vây và thịt là điều quan trọng, cũng như việc lựa chọn những đơn vị du lịch đặt phúc lợi con vật lên trên lợi nhuận. Trên hết, bảo vệ một loài chẳng bận tâm đến biên giới sẽ đòi hỏi sự hợp tác vượt biên giới, bởi con cá kiếm ăn ngoài khơi một bờ biển, vài tháng sau có thể lại phụ thuộc vào vùng nước cách đó cả một đại dương.

Nhưng có một mối đe doạ khiến những người làm công tác phúc lợi động vật như chúng tôi trăn trở hơn cả. Ngày càng nhiều cá nhám voi bị bắt khỏi tự nhiên để cung ứng cho ngành công viên đại dương, nơi chúng buộc phải chấp nhận khẩu phần nhân tạo, vùng nước chật hẹp xử lý bằng hoá chất, tiếng ồn triền miên và sự hiện diện sát sạt của con người cùng những loài vật lạ. Đây là những sinh vật quen ngao du, với nhu cầu thể chất, hành vi và tâm lý phức tạp, và tuổi đời có thể kéo dài nhiều thập kỷ. Không một bể nuôi nào đáp ứng nổi những nhu cầu ấy, và nhiều con phải chịu stress, bệnh tật và cái chết yểu trong cảnh nuôi nhốt. Một con vật sinh ra để băng qua những đại dương không thuộc về một bể nước.

🌊 Nhân Ngày Quốc tế Cá Nhám Voi, lời tri ân xứng đáng nhất dành cho loài cá lớn nhất biển cả cũng là điều thiết thực nhất: giữ cho những đại dương mà nó băng qua đủ an toàn để con cá nhám voi tiếp theo cũng có thể băng qua.



INTERNATIONAL WHALE SHARK DAY

The whale shark is the largest fish in the sea. A mature adult can stretch beyond twelve metres, weigh more than twenty tonnes and, by current estimates, live for close to a century, and yet, for all its bulk, it is among the most harmless animals in the ocean. It feeds by filtration, cruising slowly near the surface with its enormous mouth agape and sieving plankton, small crustaceans and fish from the water through the fine mesh of pads inside its gills. A feeding whale shark can pass thousands of litres of seawater through its body in an hour, taking nothing from the sea larger than a fingertip.

Unlike most sharks, which keep close to the seabed, the whale shark is a pelagic animal, at home in the open water. It gathers at a dozen or so feeding grounds around the world, from Western Australia and Indonesia to Belize, though nowhere in such numbers as off Quintana Roo, on Mexico's Yucatán Peninsula. There, between May and September, aerial surveys have counted as many as 420 animals in a single day, the largest aggregation of the species ever recorded, drawn by seasonal blooms of plankton and fish eggs rich enough to sustain them.

Just how far these animals travel has emerged only through years of satellite tracking, and two journeys stand out. The first belongs to a female known as Rio Lady, tagged in the Mexican Caribbean and tracked for about five months as she swam roughly 7,800 kilometres out into the mid-Atlantic, past the Equator toward the remote Saint Peter and Saint Paul rocks between Brazil and Africa, before her tag came away. Researchers suspected she was pregnant and heading for open water to give birth, though they could not confirm it. Her distance was later eclipsed by another female, Anne, tagged off Panama's Coiba Island in 2011, whose transmitter reported for 841 days as she crossed the entire Pacific to waters near the Mariana Trench. That journey of about 20,142 kilometres is the longest migration recorded for the species, and it places the whale shark among the great ocean travellers, alongside the leatherback turtle, the grey whale and the Arctic tern.

For an animal so large, it remains remarkably little known. It is the biggest non-mammalian vertebrate alive, and also a secretive one. Though first described by science in 1828, it was not until the 1980s that researchers realised the animals could be found reliably at particular feeding sites. Even those gatherings tell only part of the story, for they are made up overwhelmingly of juveniles and adult males. Mature females and newborn pups are largely missing from the record, and much of the species' life is still lived beyond our sight.

One of the few exceptions is Darwin Island in the Galápagos, which appears to draw very large, apparently pregnant females. The site is remote and hard to study, and why the animals pass through it at all is unclear, since there is little there to eat. One intriguing theory is that they are navigating. Ancient volcanic eruptions have left the seabed around Darwin magnetically charged, and whale sharks, like a number of marine animals, seem able to sense the Earth's magnetic field. The deep dives they make in these waters, timed to the daily rhythm of the planet's shifting magnetic intensity, may be their way of fixing their position against a magnetic map, an animal reading a compass written into the rock.

What little we know of their biology is no less extraordinary. Whale sharks bear live young, and in unusual numbers: a single female landed in Taiwan in the 1990s was found to be carrying around 300 developing pups. Like other sharks, she produced eggs, but kept them within her body until they hatched, giving birth to live offspring rather than releasing eggs into the sea. Each animal is also marked with a pattern of pale spots as distinctive as a human fingerprint, and researchers now identify individuals using a pattern-matching method first devised by astronomers to map the stars, matching the constellations on a shark's flank from photographs sent in by divers around the world.

This growing knowledge has arrived alongside mounting concern. The whale shark was reclassified from Vulnerable to Endangered on the IUCN Red List in 2016, its global numbers having more than halved over roughly seventy-five years, with declines across parts of the Indo-Pacific steeper still. The oldest threats are the most familiar. The animal has long been hunted for its fins, and for its meat and oil, and although such fishing is now widely illegal it persists in places, while others die unintentionally, drowned as bycatch in nets set for different species. Tourism has offered a measure of protection, since a living shark that draws visitors is worth far more than a dead one, yet the benefit is a fragile one: where operators crowd or harass the animals to satisfy paying guests, the industry harms the very creatures it depends upon. And like so much marine life, whale sharks now ingest microplastics as they filter the sea, along with the toxic compounds those fragments carry.

To these has been added a danger that follows the whale shark wherever it goes. The animals feed at the surface and cross some of the busiest waters on the planet, so ships strike and kill them more often than the records suggest, since a dead whale shark tends to sink rather than wash ashore to be counted. In 2022, a team led by Freya Womersley pooled the satellite tracks of nearly 350 whale sharks and found their movements overlapping heavily with large cargo and tanker traffic. A second study, drawing on more than 13,000 sightings contributed by over 75 researchers, mapped 107 whale shark aggregation sites across 26 countries and pinpointed where that traffic and the sharks most dangerously coincide, from Mexico and Ecuador to Oman, Malaysia and the Philippines.

A third study, published in the journal Nature Climate Change in 2024, added a longer-term warning. As the ocean warms, whale sharks are expected to shift towards cooler water and, in doing so, move into busier shipping routes. Under a high-emissions scenario, the researchers estimate the risk of collision could rise as much as fifteen-thousand-fold by 2100. The remedies they modelled, though, are modest. Slowing ships by around three-quarters through core habitats would add roughly five per cent to their journey times, and routing them a dozen nautical miles clear of key sites barely half a per cent, yet either step would spare many animals.

Beyond the shipping lanes, more research remains the surest foundation for protection, because the better we understand where these animals breed, travel and feed, the more precisely those places can be safeguarded. Campaigning against the trade in fins and meat matters, as does choosing tour operators who put the animals' welfare before profit. Above all, protecting a species that pays no heed to borders will demand cooperation across them, for a shark feeding off one coast may depend, months later, on waters an ocean away.

There is one threat, though, that troubles us as animal welfare specialists more than any other. A growing number of whale sharks are being taken from the wild to supply the ocean park industry, where they are made to accept an artificial diet, confined waters treated with chemicals, constant noise and the close presence of people and unfamiliar animals. These are wide-ranging creatures with complex physical, behavioural and psychological needs, and lives that may span many decades. No tank can meet those needs, and many suffer stress, illness and an early death in captivity. An animal built to cross oceans does not belong in a pool.

On International Whale Shark Day, the most fitting tribute to the largest fish in the sea is a practical one: to keep the oceans it crosses safe enough that the next whale shark can cross them too.

📍Original article: Dave Neale, Global Programme Director, Animals Asia

✏Edited by ASWE department, Animals Asia

📌References:

1. Arzoumanian, Z., Holmberg, J., & Norman, B. (2005). An astronomical pattern-matching algorithm for computer-aided identification of whale sharks Rhincodon typus. Journal of Applied Ecology, 42(6), 999-1011. https://doi.org/10.1111/j.1365-2664.2005.01117.x

2. de la Parra Venegas, R., Hueter, R., González Cano, J., Tyminski, J., Gregorio Remolina, J., Maslanka, M., Ormos, A., Weigt, L., Carlson, B., & Dove, A. (2011). An unprecedented aggregation of whale sharks, Rhincodon typus, in Mexican coastal waters of the Caribbean Sea. PLoS ONE, 6(4), e18994. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0018994

3. Germanov, E. S., Marshall, A. D., Bejder, L., Fossi, M. C., & Loneragan, N. R. (2018). Microplastics: No small problem for filter-feeding megafauna. Trends in Ecology & Evolution, 33(4), 227-232. https://doi.org/10.1016/j.tree.2018.01.005

4. Guzmán, H. M., Gómez, C. G., Hearn, A., & Eckert, S. A. (2018). Longest recorded trans-Pacific migration of a whale shark (Rhincodon typus). Marine Biodiversity Records, 11, 8. https://doi.org/10.1186/s41200-018-0143-4

5. Hueter, R. E., Tyminski, J. P., & de la Parra, R. (2013). Horizontal movements, migration patterns, and population structure of whale sharks in the Gulf of Mexico and northwestern Caribbean Sea. PLoS ONE, 8(8), e71883. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0071883

6. Joung, S. J., Chen, C. T., Clark, E., Uchida, S., & Huang, W. Y. P. (1996). The whale shark, Rhincodon typus, is a livebearer: 300 embryos found in one 'megamamma' supreme. Environmental Biology of Fishes, 46(3), 219-223. https://doi.org/10.1007/BF00004997

7. Ong, J. J. L., Meekan, M. G., Hsu, H. H., Fanning, L. P., & Campana, S. E. (2020). Annual bands in vertebrae validated by bomb radiocarbon assays provide estimates of age and growth of whale sharks. Frontiers in Marine Science, 7, 188. https://doi.org/10.3389/fmars.2020.00188

8. Pierce, S. J., & Norman, B. (2016). Rhincodon typus. The IUCN Red List of Threatened Species 2016: e.T19488A2365291. https://doi.org/10.2305/IUCN.UK.2016-1.RLTS.T19488A2365291.en

9. Womersley, F. C., Humphries, N. E., Queiroz, N., Vedor, M., da Costa, I., Furtado, M., … Sims, D. W. (2022). Global collision-risk hotspots of marine traffic and the world's largest fish, the whale shark. Proceedings of the National Academy of Sciences, 119(20), e2117440119. https://doi.org/10.1073/pnas.2117440119

10. Womersley, F. C., Rohner, C. A., Abrantes, K., Afonso, P., … Araujo, G. (2024). Identifying priority sites for whale shark ship collision management globally. Science of the Total Environment, 934, 172776. https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2024.172776

11. Womersley, F. C., Sousa, L. L., Humphries, N. E., Abrantes, K., Araujo, G., Bach, S. S., … Sims, D. W. (2024). Climate-driven global redistribution of an ocean giant predicts increased threat from shipping. Nature Climate Change, 14, 1282-1291. https://doi.org/10.1038/s41558-024-02129-5

12. Galápagos Conservation Trust. (n.d.). Whale sharks. Retrieved 30 August 2026, from https://galapagosconservation.org.uk/whale-sharks/

Address

Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Vì động vật - For Animals Vietnam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Vì động vật - For Animals Vietnam:

Shortcuts

Share