Hoài Nhơn Nam quê tôi

Hoài Nhơn Nam quê tôi Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Hoài Nhơn Nam quê tôi, Hoài Nhơn Nam, An Nhon.

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mớiTrong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh ...
17/08/2026

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh xác định đầu tư kết cấu hạ tầng là một trong ba đột phá chiến lược, tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng (GPMB), thủ tục đầu tư và nguồn lực triển khai, tỉnh vẫn tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án giao thông, cảng biển và hạ tầng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo thêm dư địa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% trong năm 2026.

Trong nhiều năm qua, Quảng Ninh dành ưu tiên cao cho phát triển kết cấu hạ tầng, coi đây không chỉ là điều kiện nâng cao khả năng kết nối vùng, thu hút đầu tư mà còn là yếu tố quan trọng để hình thành các động lực tăng trưởng mới. Kết quả đầu tư những tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy định hướng này. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 61.300 tỷ đồng, tăng 16,4%, qua đó tạo nền tảng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm tăng 13%. Điểm đáng chú ý là nguồn lực đang được tập trung vào các công trình có tính chất động lực, có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều dự án giao thông, cảng biển, logistics và hạ tầng kinh tế trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, đồng thời các vướng mắc về thủ tục, GPMB, vật liệu và nguồn lực đầu tư được tập trung tháo gỡ.

Trong nhóm dự án ngoài ngân sách, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh (giai đoạn 1) đang được tỉnh đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế và UBND phường Móng Cái 2 liên tục kiểm tra hiện trường, hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn vật liệu san lấp và tiến độ thi công. Ban Quản lý Khu kinh tế đã yêu cầu chủ đầu tư rà soát tổng thể tiến độ, xây dựng kế hoạch chi tiết và cam kết hoàn thành toàn bộ dự án trong tháng 12/2026.

Cùng với Vạn Ninh, Bến cảng tổng hợp Con Ong - Hòn Nét được xác định là dự án có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Theo Quyết định số 860/QĐ-BXD ngày 19/6/2025 của Bộ Xây dựng, khu bến được quy hoạch phát triển thành khu bến cảng tổng hợp, container và hàng rời, gồm 2 cầu cảng, công suất khoảng 4,5-6 triệu tấn/năm vào năm 2030, hướng tới hình thành cảng trung chuyển quốc tế phía Bắc. Tuy nhiên, do yêu cầu về quy mô đầu tư, hạ tầng kết nối và nguồn lực rất lớn, đến nay dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Trước thực tế này, Quảng Ninh đang chủ động tìm kiếm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của dự án, trong đó phối hợp với Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) nghiên cứu định hướng phát triển hạ tầng cảng biển; đồng thời đề xuất Bộ Xây dựng hỗ trợ đầu tư nạo vét luồng Cẩm Phả vào khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Việc tháo gỡ từng điểm nghẽn, chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kết nối và điều kiện khai thác được kỳ vọng sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, từng bước phát huy lợi thế về vị trí cửa ngõ, cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Qua đó, những công trình hạ tầng trọng điểm không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại mà còn góp phần mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng cho tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Song hành với việc đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn, Quảng Ninh đang chú trọng nâng cấp, hoàn thiện hệ thống luồng hàng hải, qua đó nâng cao năng lực khai thác cảng biển và kết nối logistics. Các dự án nâng cấp tuyến luồng sông Chanh, duy tu luồng Cẩm Phả và luồng Hòn G*i - Cái Lân đã được Bộ Xây dựng đưa vào danh mục rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang triển khai các thủ tục để thực hiện nạo vét, duy tu các tuyến luồng trong năm 2026 và đầu năm 2027.

Đáng chú ý, các dự án hạ tầng đang được triển khai có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống quy hoạch chiến lược được tỉnh công bố ngày 30/6/2026, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh; Quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức lại không gian phát triển, mở rộng các khu vực đô thị, công nghiệp, logistics và kinh tế biển theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Đặc biệt, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất bổ sung tuyến cao tốc kết nối cao tốc Hải Phòng - Hạ Long với đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nếu được đầu tư, tuyến kết nối này sẽ mở thêm hướng liên kết giữa Quảng Ninh với vùng thủ đô và các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc, qua đó tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển công nghiệp, logistics, thương mại và đô thị.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, mỗi công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông, vận tải trước mắt mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Cao tốc mở rộng khả năng kết nối và thu hút đầu tư; cảng biển nâng cao năng lực xuất nhập khẩu; các khu công nghiệp tạo thêm mặt bằng cho sản xuất; trong khi hệ thống logistics đồng bộ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các công trình động lực; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư, GPMB; nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực hiện cam kết tiến độ. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tỉnh chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ. Cùng với đó, đẩy mạnh xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực hạ tầng, cảng biển và logistics, từng bước biến lợi thế về vị trí, kết nối và kinh tế biển thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.





Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc giaPhát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn...
17/08/2026

Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia

Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.

Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.

Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.

Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.

Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.

Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.

Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.

Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.

Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Nguồn: Báo QĐND
Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ







09/08/2026
09/08/2026

Chuyển mạnh sang ngăn chặn, phòng ngừa từ sớm, từ xa thông tin xấu độc trên mạng

Từ bài học thực tiễn của những vụ án phát tin giả, các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải chủ động phòng ngừa, nâng cao trách nhiệm nhà mạng và hoàn thiện hành lang pháp lý về an ninh mạng.

Bên lề phiên thảo luận tại hội trường sáng 8/8, một số đại biểu Quốc hội đã có những chia sẻ thẳng thắn, sâu sắc xung quanh thực trạng thông tin xấu độc, lệch chuẩn và các vụ việc vi phạm pháp luật gây xôn xao dư luận trên không gian mạng thời gian qua.

Từ bài học thực tiễn của những vụ án kéo dài hay tình trạng tán phát tin giả, các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải chủ động phòng ngừa, nâng cao trách nhiệm nhà mạng và tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về an ninh mạng.

Đánh giá về thực trạng quản lý không gian mạng thời gian qua, đại biểu Tạ Văn Hạ (thành phố Đà Nẵng) ghi nhận phản ứng nhanh chóng, quyết liệt của lực lượng chức năng, đặc biệt là cơ quan Công an trong việc sớm vào cuộc khởi tố, xử lý nghiêm nhiều vụ việc vi phạm bôi nhọ, đưa tin sai sự thật hay vi phạm thuần phong mỹ tục trên không gian mạng gây bức xúc dư luận và ảnh hưởng xấu đến xã hội.

Theo đại biểu, sự can thiệp kịp thời này đã góp phần răn đe, củng cố niềm tin của đông đảo người dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, nhìn từ thực tế các vụ việc vi phạm, từ những vụ việc livestream vi phạm pháp luật cho đến các hình ảnh, nội dung lệch chuẩn lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội thời gian qua, đại biểu cho rằng công tác quản lý hiện nay vẫn thiên về hướng đi sau giải quyết hậu quả của các vụ việc.

Các vụ việc chưa được ngăn chặn, xử lý ngay từ khi có dấu hiệu bùng phát rộng rãi. Các video, clip, phát ngôn… đầu tiên có nguy cơ lan truyền rộng rãi chưa được kiểm soát, dẫn đến việc những nội dung này bị lan truyền quá nhanh trên diện rộng, khi đó mới tiến hành xử lý.

Đại biểu Tạ Văn Hạ nêu rõ thông tin lan truyền trên không gian mạng có lợi thế là rất nhanh chóng và lan tỏa rộng rãi. Nếu xử lý chậm một chút thì nguy cơ đã bùng phát thành "ngọn lửa" khủng hoảng truyền thông. Do vậy, thay vì chỉ tập trung đi xử lý vi phạm khi việc đã rồi, vấn đề quan trọng là phải chuyển mạnh sang ngăn chặn và phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm hoặc đăng tải thông tin sai sự thật, cần có cơ chế cảnh báo, nhắc nhở và ngăn chặn ngay lập tức, không để phát tán thành trào lưu hay vụ việc tiêu cực lớn.

Đồng tình với quan điểm trên, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) cho rằng các bên liên quan cần tập trung đồng bộ hóa các giải pháp trọng tâm nhằm “làm sạch” không gian mạng.

Để nâng cao hiệu quả quản lý và xây dựng môi trường mạng lành mạnh, cần khẩn trương đưa ra các quy định nâng cao trách nhiệm pháp lý của nhà mạng và bên cung cấp dịch vụ. Các nhà mạng, đơn vị cung cấp dịch vụ Internet và nền tảng xuyên biên giới phải chủ động đóng vai trò là bộ lọc ngay từ khâu ban đầu.

Những đơn vị này phải áp dụng các biện pháp rà soát và có trách nhiệm sàng lọc nội dung xấu độc, vi phạm an ninh trật tự, ảnh hưởng đến thuần phong, mỹ tục và giá trị văn hóa của Việt Nam.

Lực lượng chức năng và các cơ quan truyền thông báo chí chủ động công khai, minh bạch thông tin kịp thời để định hướng, dẫn dắt dư luận trước các vụ việc có nguy cơ bị lợi dụng để bóp méo, xuyên tạc nội dung nhằm “câu like, câu view” hoặc chống phá Đảng, Nhà nước.

Việc cung cấp thông tin chuẩn xác ngay từ đầu sẽ không tạo khoảng trống cho các đối tượng lợi dụng, giúp người dân có cơ sở kiểm chứng và phản biện lại tin đồn thất thiệt.

Để vấn đề quản lý thông tin xấu độc trên không gian mạng hiệu quả hơn, cần chú trọng nâng cao nhận thức và trách nhiệm người dùng. Mỗi cá nhân khi tham gia tương tác, bình luận, chia sẻ thông tin trên mạng xã hội, cần nâng cao nhận thức pháp luật, ứng xử có trách nhiệm, tránh vô tình tiếp tay cho hành vi vi phạm.

Đại biểu Phạm Văn Hòa khẳng định nhìn ở góc độ lập pháp, đại biểu, Quốc hội sẽ tiếp tục nghiên cứu, rà soát để hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý đồng bộ hơn nữa. Trọng tâm là sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến Luật An ninh mạng, quy định về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm an ninh trật tự và văn hóa trên không gian mạng.

Cùng với đó là hoàn thiện thể chế cùng với sự chủ động từ phía cơ quan quản lý, nhà mạng và sự đồng lòng của toàn xã hội chính là chìa khóa để khai thác lợi ích của công nghệ số, đồng thời hạn chế tối đa tác động tiêu cực đối với đời sống xã hội./.

TTXVN

TÍNH GỌN BỘ MÁY - PHỤC VỤ NHÂN DÂN TỐT HƠN! 🇻🇳 PHƯƠNG ÁN SẮP XẾP KHU PHỐ PHƯỜNG HOÀI NHƠN NAM.Thực hiện Phương án số 06/...
16/06/2026

TÍNH GỌN BỘ MÁY - PHỤC VỤ NHÂN DÂN TỐT HƠN! 🇻🇳 PHƯƠNG ÁN SẮP XẾP KHU PHỐ PHƯỜNG HOÀI NHƠN NAM.

Thực hiện Phương án số 06/PA-UBND ngày 10/6/2026 của UBND tỉnh Gia Lai về việc sắp xếp, sáp nhập và đổi tên thôn, tổ dân phố, Phường Hoài Nhơn Nam sắp có sự thay đổi lớn về cơ cấu khu phố.

Đây là chủ trương lớn nhằm:
✅ Tối ưu hóa nguồn lực.
✅ Nâng cao hiệu quả quản lý của bộ máy cơ sở.
✅ Phục vụ nhân dân tốt hơn, chu đáo hơn.

Mục tiêu cụ thể tại Phường Hoài Nhơn Nam là sắp xếp lại các khu phố hiện có, hình thành nên 7 khu phố mới (xem chi tiết trong infographic). Tổng số hộ dân toàn phường là 7.891 hộ.

Ban Chỉ đạo sáp nhập phường trân trọng kính báo và mong nhận được sự đồng thuận, ủng hộ và phối hợp của toàn thể nhân dân để thực hiện thành công phương án.

Nguồn: Thông tin Hoài Nhơn Nam

👇👇👇

Kỷ niệm 78 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2026)THI ĐUA LÀ YÊU NƯỚC, YÊU ...
11/06/2026

Kỷ niệm 78 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2026)

THI ĐUA LÀ YÊU NƯỚC, YÊU NƯỚC THÌ PHẢI THI ĐUA THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Với tinh thần“Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dựa vào dân để gây hạnh phúc cho dân. Người luôn coi trọng việc tổ chức, động viên phong trào thi đua yêu nước trong toàn dân. Người coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của mọi thời kỳ cách mạng, bởi đó chính là nền tảng, động lực của sự phát triển, là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc.

Ngày 11-6-1948, Người ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên tinh thần và lực lượng của toàn dân tộc cho công cuộc “kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc mau thành công”. Từ đó, dưới sự lãnh đạo của Người, phong trào thi đua yêu nước của nhân dân ta phát triển nhanh chóng, sâu rộng trên khắp mọi miền Tổ quốc, như hoa nở mùa xuân...

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta điNhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, trân trọng giới thiệu...
19/05/2026

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi

Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi."

Ngày 19/5/2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rực rỡ, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đã mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ Nhân dân.

Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, gắn bó mật thiết hơn với Nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.

Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

Nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, Nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.

Đó là chiều sâu nhân văn, là giá trị bền vững và cũng là sức sống thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ XX, mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI.

Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bắt kịp các xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở thành điểm tựa tinh thần, nền tảng tư duy và phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định.

Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường phát triển, nhìn lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, mà còn xác lập phương pháp luận, tầm nhìn và những quyết sách chiến lược cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Đó là con đường phát triển nhanh và bền vững ; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; cung cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.

Nhìn sâu xa, những định hướng chiến lược ấy chính là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng.

Trước hết, tư tưởng “dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với Nhân dân.

Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.

Thứ hai, tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới.

Khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, vượt qua tâm lý tự bằng lòng, vượt qua nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về công nghệ, năng suất và chất lượng phát triển.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiếp tục là nền tảng đặc biệt quan trọng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta là Đảng cầm quyền; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Người coi đạo đức là gốc của người cách mạng, coi sự gắn bó máu thịt với Nhân dân là nguồn sức mạnh và là điều kiện tồn tại, phát triển của Đảng.

Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín và năng lực lãnh đạo. Một hệ thống chính trị tinh gọn muốn vận hành hiệu quả phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một nền quản trị hiện đại muốn thành công phải được đặt trên nền tảng kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Vì vậy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ phát triển. Chống tham nhũng là để làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo vệ nguồn lực quốc gia, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển. Chống lãng phí là để khơi thông nguồn lực, sử dụng hiệu quả tài sản công, thời gian công, cơ hội phát triển của đất nước. Chống tiêu cực là giữ gìn kỷ cương, ngăn chặn tha hóa quyền lực, tạo nền tảng công bằng, văn minh cho phát triển đất nước bền vững; Chống quan liêu là để bộ máy không xa dân, chính sách không xa thực tiễn, cán bộ không vô cảm trước đời sống Nhân dân.

Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài-đó là phương thức tập hợp lực lượng và cũng là nghệ thuật xây dựng sức mạnh quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Trong giai đoạn hiện nay, đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là nguồn lực phát triển. Đất nước muốn vươn mình phải khơi dậy và phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam. Công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sỹ, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài đều là những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà phải huy động, giải phóng và kết nối mọi nguồn lực xã hội, mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân.

Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; đổi mới công nghệ phải đi đôi với phát triển con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng- an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.

Từ đó có thể thấy các quyết sách đổi mới trong thời gian gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời Nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ Nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo công việc của mình.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ Nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của Nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.

Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ Nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của Nhân dân.

Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./.

Address

Hoài Nhơn Nam
An Nhon

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hoài Nhơn Nam quê tôi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Hoài Nhơn Nam quê tôi:

Shortcuts

Share