Tuyên giáo & Dân vận phường Bãi Cháy- Tỉnh Quảng Ninh

Tuyên giáo & Dân vận phường Bãi Cháy- Tỉnh Quảng Ninh Cơ quan tham mưu giúp việc Đảng ủy phường Bãi Cháy

🎯 QUY ĐỊNH SỐ 208-QĐ/TW VỀ THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNGNgày 26/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định số 208-Q...
29/07/2026

🎯 QUY ĐỊNH SỐ 208-QĐ/TW VỀ THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNG

Ngày 26/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định số 208-QĐ/TW về thi hành Điều lệ Đảng, thay thế các quy định trước đây, tạo cơ sở thống nhất trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức đảng trong giai đoạn mới.

Những nội dung trọng tâm của Quy định gồm:

🔹 Hệ thống tổ chức của Đảng;
🔹 Nguyên tắc tổ chức và cơ cấu tổ chức của Đảng;
🔹 Quy định về đảng viên;
🔹 Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam;
🔹 Công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật;
🔹 Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội;
🔹 Tài chính của Đảng.

🔺️Một số điểm mới đáng chú ý:

1. Hoàn thiện hệ thống tổ chức của Đảng theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Theo Quy định, hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức theo cấp xã (xã, phường, đặc khu), cấp tỉnh, thành phố và cấp Trung ương, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở mỗi cấp.

Việc thành lập các tổ chức đảng được quy định cụ thể:

📍 Ở Trung ương: Thành lập Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng bộ Quốc hội, Đảng bộ Chính phủ, Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội Trung ương trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

📍 Ở cấp tỉnh: Thành lập đảng bộ các cơ quan Đảng; đảng bộ UBND tỉnh, thành phố trực thuộc cấp ủy cấp tỉnh; đồng thời thí điểm thành lập đảng bộ HĐND và đảng bộ MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh.

📍 Ở cấp xã: Tổ chức đảng xã, phường, đặc khu là đảng bộ cơ sở trực thuộc cấp ủy cấp tỉnh, do cấp ủy cấp tỉnh quyết định thành lập.

Ngoài ra, việc tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam và tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp có vị trí quan trọng tiếp tục thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị.

2. Tiếp tục thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng

Quy định nhấn mạnh việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời quy định rõ thẩm quyền ban hành quy chế làm việc mẫu của các cấp ủy.

Hằng năm, các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra và tập thể lãnh đạo phải tự phê bình, phê bình, kiểm điểm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; xây dựng kế hoạch khắc phục hạn chế, khuyết điểm.

Cuối nhiệm kỳ, việc tự phê bình và phê bình phải gắn với đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết đại hội và nhiệm vụ chính trị của từng cấp.

3. Quy định rõ hơn về điều kiện kết nạp đảng viên

Về tuổi đời, tại thời điểm chi bộ xét kết nạp, người vào Đảng phải từ đủ 18 tuổi đến đủ 60 tuổi (tính theo tháng). Trường hợp trên 60 tuổi, việc xem xét kết nạp do cấp ủy trực thuộc Trung ương quyết định theo quy định.
Quy định cũng tiếp tục quy định cụ thể về trình độ học vấn và các điều kiện đối với người vào Đảng.

4. Làm rõ cơ chế Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

Quy định tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, đồng thời quy định cụ thể hơn trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

👉 Quy định số 208-QĐ/TW là căn cứ quan trọng để thống nhất tổ chức, hoạt động của các tổ chức đảng trong giai đoạn mới, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

📌 Mời cán bộ, đảng viên và Nhân dân theo dõi infographic để tìm hiểu những nội dung cốt lõi của Quy định số 208-QĐ/TW.

📖 Toàn văn Quy định số 208-QĐ/TW: (đính kèm theo bài viết dưới phần bình luận)

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô LâmHôm nay, 24/7, tại Hà Nội, Tổng Bí...
24/07/2026

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Hôm nay, 24/7, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí đại biểu dự Hội nghị

Sau thời gian làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ, thẳng thắn và trách nhiệm, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã hoàn thành chương trình đề ra. Trung ương đã thảo luận kỹ các nội dung; thống nhất cao nhiều chủ trương, quyết sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Bộ Chính trị đã nghiêm túc tiếp thu, giải trình, hoàn thiện các dự thảo văn bản.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi trân trọng cảm ơn, đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, trí tuệ của các đồng chí Trung ương, các đồng chí đại biểu khách mời; biểu dương các cơ quan, đơn vị, lực lượng phục vụ Hội nghị.

Thưa các đồng chí,

Trước khi bế mạc Hội nghị, tôi xin khái quát 03 kết quả chủ yếu, nhấn mạnh 05 yêu cầu trọng tâm để đưa các quyết sách của Trung ương vào cuộc sống.

Thứ nhất, Trung ương thống nhất đánh giá: trong 6 tháng đầu năm 2026, việc cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV và các nghị quyết chiến lược của Đảng được triển khai khẩn trương, quyết liệt; năng lực lãnh đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát của Đảng có nhiều chuyển biến; bộ máy của hệ thống chính trị sau sắp xếp hoạt động ổn định, bước đầu phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi. Nguyên nhân sâu xa là thẩm quyền có nơi chưa đi liền trách nhiệm; phân cấp chưa gắn đủ với nguồn lực, dữ liệu, công cụ, năng lực cán bộ và kiểm soát; nguồn lực còn chia cắt; tăng trưởng chưa dựa vào năng suất, nội lực; dự báo, phòng ngừa ở một số lĩnh vực, ngành, địa phương chưa theo kịp biến động. Vì vậy, phải xử lý từ nguyên nhân gốc, đồng bộ trên cả thể chế, tổ chức, con người và phương thức lãnh đạo, quản trị; gắn xây dựng Đảng với quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, Trung ương thống nhất cao về 13 nội dung trình Hội nghị; biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị và các văn bản thuộc chương trình. Các nghị quyết, kết luận, quy định, đề án được thông qua bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài, tạo cơ sở thực hiện 4 bước chuyển chiến lược.

(i)Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Trung ương thống nhất đánh giá: sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy mới thể hiện tính ưu việt, phù hợp, thông suốt, phát huy hiệu quả, nhưng chất lượng vận hành còn chưa đồng đều, nhất là ở cấp cơ sở. Trung ương thông qua các nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026; yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chức năng, thẩm quyền, quan hệ công tác, bảo đảm phân cấp gắn với nhân lực, nguồn lực, dữ liệu, công cụ thực thi và kiểm soát quyền lực. Trung ương quyết định ban hành Quy định sửa đổi, bổ sung Quy định số 20; nhấn mạnh đây là văn bản đặc biệt quan trọng để thi hành Điều lệ Đảng, mọi sửa đổi tuyệt đối tuân thủ Điều lệ, đúng thẩm quyền; vấn đề mới, chưa được Điều lệ quy định chỉ được thí điểm theo đúng thẩm quyền, có phạm vi, thời hạn cụ thể. Tiến hành sơ kết, tổng kết để phục vụ cho kế hoạch sửa đổi điều lệ Đảng tại Đại hội XV của Đảng. Trung ương thống nhất ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và đồng bộ với các quy định của Đảng; nội dung rõ, chặt chẽ, khả thi, cụ thể hóa chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm nêu gương, nhận diện đúng các hành vi vi phạm, bảo đảm kỷ luật nghiêm minh, đồng thời không làm triệt tiêu tinh thần đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

(ii)Về tổ chức không gian phát triển và quản trị nguồn lực, Trung ương thông qua chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh, thành phố Bắc Ninh. Thống nhất ban hành Kết luận về sơ kết Nghị quyết số 18 và các quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai, các luật có liên quan; khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, là tài nguyên đặc biệt, không gian sinh tồn và phát triển của quốc gia. Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp theo chính sách, pháp luật đất đai qua các thời kỳ. Việc sửa luật phải đồng bộ, đúng, trúng, kịp thời; khơi thông nguồn lực nhưng không tư nhân hóa đất đai; hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất; bảo đảm cải thiện chỗ ở, điều kiện sống và sinh kế của người có đất thu hồi. Trung ương thống nhất ban hành Nghị quyết mới về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, xác định biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế biển hiện đại phải gắn với bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống Nhân dân và giữ vững chủ quyền quốc gia.

(iii)Về kinh tế -xã hội, Trung ương thống nhất đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm; quyết tâm phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên, đồng thời giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, việc làm, thu nhập và an sinh xã hội. Đối với Đề án đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Trung ương quyết định ban hành Nghị quyết, xác định đây là vấn đề rất lớn, rất mới, chưa có tiền lệ, có ý nghĩa định hình mô hình phát triển quốc gia đến năm 2045 và xa hơn. Nghị quyết không chỉ đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng mà xác lập mô hình phát triển tổng thể; cụ thể hóa đường lối, khát vọng phát triển đất nước; lấy Nhân dân và con người làm mục tiêu cao nhất; kết tinh những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết liên quan và chắt lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp. Trung ương thống nhất thông qua Đề án xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, xác định xây dựng con người, văn hóa, pháp luật, kỷ cương và môi trường xã hội lành mạnh là những nội dung cốt lõi, bảo đảm mọi thành quả phát triển thực sự nâng cao chất lượng sống và hạnh phúc của Nhân dân.

(iv)Về bảo vệ đất nước và phát triển bền vững, Trung ương nhất trí những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược an ninh quốc gia; yêu cầu đặt an ninh trong tổng thể phát triển đất nước, chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa và xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ truyền thống, phi truyền thống, liên ngành, xuyên biên giới; bảo vệ vững chắc Đảng, Chế độ, Nhà nước, Nhân dân, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh con người, dữ liệu, năng lượng, nguồn nước, lương thực và hạ tầng trọng yếu. Trung ương thông qua kết quả tổng kết Nghị quyết số 24 và ban hành Kết luận về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới; xác định phải chuyển mạnh từ khắc phục hậu quả sang phòng ngừa, thích ứng, phục hồi; quản trị theo hệ sinh thái, lưu vực sông và vùng biển; gắn chuyển đổi xanh với nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm an toàn phát triển và trách nhiệm với các thế hệ mai sau.

Thứ ba, Trung ương thống nhất cơ chế bảo đảm để các quyết sách được tổ chức thực hiện đồng bộ, có thể kiểm soát, đo lường và quy trách nhiệm. Năng lực thực thi phải được thiết kế ngay trong mỗi quyết sách. Mỗi nhiệm vụ phải rõ cơ quan chủ trì, đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, điều kiện thực hiện, thời hạn và sản phẩm; kiểm tra, giám sát thường xuyên để cảnh báo, điều chỉnh kịp thời. Không giao nhiệm vụ mà không xác định rõ điều kiện thực hiện; không phân cấp mà thiếu kiểm soát; không để trách nhiệm hòa tan trong phối hợp. Kết quả thực tế và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp là căn cứ chủ yếu để đánh giá tổ chức, cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Thưa các đồng chí,

Ba kết quả trên cho thấy Hội nghị đã đặt 13 nội dung trong một chỉnh thể thống nhất giữa xây dựng, phát triển và bảo vệ, trước mắt và lâu dài, mục tiêu chính trị và điều kiện thực hiện. Điểm mới thể hiện ở từng quyết sách và ở phương pháp lãnh đạo: nhìn thẳng vào nguyên nhân gốc, tổ chức nguồn lực theo mục tiêu chung, gắn quyết định với thực thi và đặt lợi ích lâu dài của đất nước, cuộc sống của Nhân dân ở vị trí cao nhất.

Giá trị và sức sống của các quyết sách phải được đo bằng kết quả thực tế: điểm nghẽn được tháo gỡ, năng lực mới được tạo lập, bộ máy vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, năng suất và sức cạnh tranh được nâng cao, đất nước an toàn hơn, Nhân dân được thụ hưởng thiết thực hơn.

Từ nhận thức đó, phải chuyển ngay sự thống nhất về chủ trương thành thống nhất trong hành động, đưa các quyết sách của Trung ương thành kết quả cụ thể. Ngay sau Hội nghị, toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị phải tập trung làm tốt 5 nhóm việc.

Thứ nhất, xác định đúng trọng tâm, thứ tự ưu tiên và những khâu đột phá cần tập trung thực hiện. Các quyết sách của Hội nghị có phạm vi rộng, tác động nhiều mặt và quan hệ chặt chẽ. Vì vậy phải triển khai thực thi ngay. Những nhiệm vụ có tính nền tảng, có sức dẫn dắt, lan tỏa phải được tập trung ưu tiên. Việc đã rõ, điều kiện đã chín muồi phải làm ngay, làm đến nơi đến chốn, làm hiệu quả; việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải được nghiên cứu kỹ; khi cần thiết, thí điểm có kiểm soát, vừa làm vừa đánh giá, đúng thẩm quyền. Phải giải quyết dứt điểm những khâu then chốt để mở đường thực hiện các nhiệm vụ còn lại.

Thứ hai, tổ chức thực hiện dưới sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt của Đảng; phát huy đầy đủ chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, phân công, kiểm tra, đôn đốc. Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo việc thể chế hóa; Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định, giám sát theo thẩm quyền. Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo xây dựng chương trình hành động; chỉ đạo Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội, phản ánh ý kiến Nhân dân. Toàn hệ thống phải hành động đồng bộ, thông suốt, hướng về cơ sở và Nhân dân.

Theo Quy định số 206 của Bộ Chính trị, các đồng chí Ủy viên Trung ương có trách nhiệm chủ trì hoặc chỉ đạo quán triệt, triển khai nghị quyết, kết luận Hội nghị tại địa phương, cơ quan, đơn vị. Tinh thần trách nhiệm ấy phải được quán triệt từ các đồng chí ủy viên Trung ương đến từng cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm Quy định về những điều đảng viên không được làm, thường xuyên tự soi, tự sửa; gương mẫu tuyên truyền, vận động Nhân dân; nói đi đôi với làm, nhận nhiệm vụ phải làm đến cùng, chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng và Nhân dân về kết quả công việc.

Thứ ba, phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã; bảo đảm 3 cấp vận hành thông suốt, phối hợp chặt chẽ, tương tác hiệu quả. Trung ương tập trung định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, xây dựng các nền tảng dùng chung, phân bổ nguồn lực lớn và kiểm tra việc thực hiện. Cấp tỉnh là cấp phải cải cách, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; cụ thể hóa chủ trương, tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực, bảo đảm điều kiện cho cấp xã và chịu trách nhiệm về kết quả công tác. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp thực thi, phục vụ Nhân dân, xử lý, giải quyết mọi vấn đề phát sinh từ thực tiễn cuộc sống, nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Do vậy cấp xã phải được xây dựng đủ sức quản trị sự phát triển. Trung ương không làm thay địa phương; cấp tỉnh không ôm giữ việc cấp xã có thể làm tốt; khi công việc của cấp xã còn khó thực thi, khi chưa bảo đảm thẩm quyền, nhân lực, tài chính, dữ liệu, công cụ và hướng dẫn thì cấp tỉnh có trách nhiệm tháo gỡ và giải quyết, không để tồn đọng. Năng lực thực thi của cấp xã, sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo hiệu quả hoạt động của cả hệ thống.

Thứ tư, cụ thể hóa từng quyết sách thành chương trình, kế hoạch hành động; xác định rõ nguồn lực, lộ trình, sản phẩm và trách nhiệm thực hiện. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Trung ương, Bộ Chính trị đã được cụ thể hóa khẩn trương, đồng bộ; nhưng chất lượng, tiến độ thực hiện chưa đồng đều. Yêu cầu hiện nay là biến tốc độ ban hành thành tốc độ thực hiện, biến quyết tâm chính trị thành chuyển biến thực chất, kết quả cụ thể. Chương trình hành động của từng ban, bộ, ngành, địa phương, cơ sở phải rõ nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, người chịu trách nhiệm; bám sát mục tiêu chung, xuất phát từ thực tiễn, không rập khuôn, máy móc. Người lãnh đạo phải sâu sát, nắm được hơi thở, nhịp sống của địa bàn, lĩnh vực mình phụ trách; biết lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp và Nhân dân; chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện, đúng định hướng, đúng thẩm quyền, vì lợi ích chung.

Tiến độ phải được lồng vào từng nhiệm vụ, gắn với trách nhiệm cụ thể. Trong 6 tháng cuối năm 2026, phải bảo đảm bộ máy thông suốt, xử lý điểm nghẽn cấp bách, hoàn thành cao nhất mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong nhiệm kỳ khóa XIV, phải thể chế hóa quyết sách, hoàn thiện phân cấp, phân quyền, tổ chức lại không gian, đổi mới mô hình phát triển. Hướng tới mục tiêu 2030, tầm nhìn 2045, phải nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo; chủ động phòng ngừa, ứng phó nguy cơ, thách thức; bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh con người, an ninh quốc gia và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Trong từng chương trình hành động, phải xác định rõ nội dung, phương thức và trách nhiệm thông tin, tuyên truyền về các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng; bảo đảm kịp thời, chính xác, dễ hiểu, thuyết phục; tạo thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, để Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng và tự giác thực hiện; chủ động định hướng dư luận, phản bác thông tin sai trái, xuyên tạc. Tổ chức thực hiện không chỉ là công việc của hệ thống chính trị, mà phải trở thành hành động sâu rộng của toàn dân.

Thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát; đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm và kết quả thực tế. Phải kiểm đếm điểm nghẽn đã được tháo gỡ, nguồn lực đã được khơi thông, đời sống Nhân dân đã chuyển biến thế nào. Kết quả thực hiện phải là căn cứ quan trọng nhất để đánh giá cán bộ, nhất là người đứng đầu; biểu dương nơi làm tốt, bảo vệ người dám đổi mới; đồng thời xử lý nghiêm tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm chậm, làm hình thức.

Mục tiêu, tiến độ, sản phẩm và kết quả thực hiện phải được công khai, minh bạch theo quy định để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân theo dõi, giám sát, phản ánh, kiến nghị; kịp thời phát hiện những nơi làm tốt để biểu dương, nhân rộng và những hạn chế, vướng mắc để chấn chỉnh, tháo gỡ.

Thưa các đồng chí,

Thành công của Hội nghị mới là bước đầu. Tình hình thế giới sẽ còn diễn biến nhanh, phức tạp, thời cơ và thách thức đan xen. Càng trong hoàn cảnh đó, càng phải kiên định mục tiêu, giữ vững nguyên tắc, đoàn kết, kỷ cương; chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi trân trọng gửi tới các mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, các cựu chiến binh, cựu Công an Nhân dân, cựu thanh niên xung phong, người tham gia kháng chiến, người có công với nước lời thăm hỏi thân tình, lòng tri ân sâu sắc. Đề nghị các cấp, các ngành tiếp tục chăm lo người có công, gia đình chính sách bằng những việc làm thiết thực, nghĩa tình; triển khai hiệu quả Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.

Với sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, quyết liệt của Đảng; sự đồng hành, ủng hộ của Nhân dân; tinh thần trách nhiệm, cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc, chúng ta nhất định thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đưa các quyết sách của Trung ương thành kết quả cụ thể trong cuộc sống.

Tôi tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Một lần nữa, chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc, hoàn thành xuất sắc trọng trách được giao.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí./.

Thông cáo báo chí ngày làm việc thứ ba của Hội nghị Trung ương 3 Ngày 22/7, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương...
22/07/2026

Thông cáo báo chí ngày làm việc thứ ba của Hội nghị Trung ương 3

Ngày 22/7, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV tiếp tục ngày làm việc thứ ba.

1. Buổi sáng, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội điều hành Hội nghị. Trung ương và các đại biểu làm việc tại Hội trường, thảo luận về 2 nội dung:

(1) Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII "về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045".

(2) Đề án tổng kết Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI "về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường".

2. Buổi chiều, Trung ương và các đại biểu làm việc tại Tổ, thảo luận về 4 nội dung:

(1) Đề án xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển.

(2) Đề án Chiến lược An ninh quốc gia.

(3) Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương.

(4) Đề án thành lập thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương.

Ngày mai (23/7/2026), Trung ương tiếp tục làm việc theo chương trình.

HƯỚNG DẪN ĐẢNG VIÊN THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA ĐẢNG TRÊN MÔI TRƯỜNG ĐIỆN TỬThực hiện chủ trương chuyển đổi số tron...
21/07/2026

HƯỚNG DẪN ĐẢNG VIÊN THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA ĐẢNG TRÊN MÔI TRƯỜNG ĐIỆN TỬ
Thực hiện chủ trương chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, từ ngày 08/7/2026, đảng viên có thể thực hiện 04 thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử thông qua ứng dụng iCPV TTHC, gồm:
Thu nộp đảng phí.
Chuyển sinh hoạt đảng chính thức.
Chuyển sinh hoạt đảng tạm thời.
Giới thiệu sinh hoạt đảng tạm thời.
Đối với thủ tục thu nộp đảng phí:
Bước 1: Đảng viên đăng nhập https://dichvucong.dcs.vn để thực hiện nộp đảng phí.
Bước 2: Bí thư chi bộ hoặc người được phân quyền đăng nhập https://gqtthc.dcs.vn để tiếp nhận, giải quyết hồ sơ.
Bước 3: Thực hiện phê duyệt (không cần ký số) để hoàn tất thủ tục.
Việc triển khai các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử góp phần đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc, tạo thuận lợi cho đảng viên và tổ chức đảng trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính theo quy định.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi sốThủ tướng Chính phủ vừa có Ch...
21/07/2026

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Thủ tướng Chính phủ vừa có Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 16/7/2026 về đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026.

Để khẩn trương khắc phục các hạn chế, tạo đột phá trong những tháng cuối năm 2026, phấn đấu hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ và giải ngân hết kế hoạch vốn, kinh phí được giao năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau đây.

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc

Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển văn hóa Việt Nam (phần 2)Phát biểu kết luận Phiên họp thứ ha...
16/07/2026

Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển văn hóa Việt Nam (phần 2)

Phát biểu kết luận Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị quán triệt thêm “ba chuyển dịch lớn”, phù hợp với nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Thứ nhất, chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia. Thứ hai, chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số. Xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam, coi đây là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc. Thứ ba, chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.

Ngày 13/07/2026, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương phá...
16/07/2026

Ngày 13/07/2026, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"; đánh dấu một bước chuyển quan trọng sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW (ngày 15/05/2016) về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Những điểm mới mang tính đột phá, toàn diện và quyết liệt hơn của Chỉ thị 07 so với Chỉ thị 05:
1. Thay đổi về tên gọi và phạm vi cốt lõi
Chỉ thị 05: Có tên gọi là "về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".
Chỉ thị 07: Được bổ sung hai cụm từ cốt lõi là "thực hành" và "phương pháp". Tên đầy đủ của văn bản là: "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Sự thay đổi này thể hiện yêu cầu cao hơn: không chỉ dừng lại ở học tập và làm theo thông thường, mà phải tập trung vào việc vận dụng phương pháp luận và chuyển mạnh sang thực hành thực chất trong công việc hằng ngày.
2. Nhấn mạnh tinh thần "6 dám" và "Bản lĩnh, tư duy đổi mới"
Chỉ thị 05: Đề cập chủ yếu đến các chuẩn mực đạo đức truyền thống như cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hoàn thiện đạo đức công vụ.
Chỉ thị 07: Đưa nội dung "bản lĩnh và tư duy đổi mới" làm nội dung tiên phong trong hành động. Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu cán bộ phải: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung để tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt và khơi thông nguồn lực phát triển. Đồng thời, Chỉ thị 07 yêu cầu rất quyết liệt: Kịp thời thay thế những cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám quyết, không dám làm vì lợi ích chung. Đây là điểm hoàn toàn mới và rất mạnh mẽ so với Chỉ thị 05.
3. Cụ thể hóa tiêu chí "Nêu gương" để đánh giá cán bộ
Chỉ thị 05: Đề cao trách nhiệm nêu gương chung của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ đảng viên.
Chỉ thị 07: Cụ thể hóa trách nhiệm nêu gương thành tiêu chí đánh giá bắt buộc trong công tác cán bộ, tập trung vào 3 nhóm nội dung cụ thể:
Bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới và năng lực tổ chức thực hiện (kiên định lý tưởng, dự báo chính xác, quyết sách kịp thời, dám nghĩ, dám làm...).
Đạo đức công vụ và kỷ luật thực thi (gương mẫu, nói đi đôi với làm, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực...).
Tinh thần phục vụ Nhân dân (gần dân, trọng dân, hiểu dân, dựa vào dân, chống quan liêu, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm).
Đặc biệt, người đứng đầu phải công khai cam kết cá nhân và tiêu chí nêu gương cụ thể để làm căn cứ đánh giá, xếp loại đảng viên hằng năm, quy hoạch, điều động và bổ nhiệm cán bộ.
4. Đột phá về ứng dụng Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo (AI)
Chỉ thị 05: Chưa đề cập đến yếu tố công nghệ thông tin hay chuyển đổi số trong phương thức thực hiện.
Chỉ thị 07: Thể hiện rõ tính thời đại khi yêu cầu ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc xây dựng hệ thống dữ liệu, học học liệu số tương tác cao về học tập và thực hành theo Bác. Tăng cường kỷ luật phát ngôn và văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên trên không gian mạng.
5. Thay đổi căn bản phương thức kiểm tra, giám sát
Chỉ thị 05: Chú trọng kiểm tra, đôn đốc chung gắn với nhận xét, đánh giá hằng năm và cả nhiệm kỳ.
Chỉ thị 07: Chuyển mạnh từ giám sát khâu đăng ký, xây dựng kế hoạch sang giám sát kết quả thực hiện thực tế, mức độ giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Ứng dụng công nghệ số vào quá trình theo dõi, giám sát và công khai kết quả thực hiện.
Chỉ đạo kiên quyết xử lý kỷ luật đối với các tập thể, cá nhân có biểu hiện hình thức, đối phó trong học tập và thực hành theo Bác.
6. Xác định rõ thước đo đánh giá kết quả rõ ràng, thực chất
Chỉ thị 07: Xác định rõ thước đo kết quả học tập, thực hành theo Bác là: sản phẩm cụ thể, chất lượng, hiệu quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp. Điều này giúp công tác đánh giá không còn mơ hồ mà gắn chặt với lợi ích thực tế của nhân dân.

Khắc phục những khoảng trống để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, động lực tăng trưởngSáng 13/7, tại Trụ sở Trung ư...
14/07/2026

Khắc phục những khoảng trống để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, động lực tăng trưởng

Sáng 13/7, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ 2, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo.

Dự phiên họp có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Trưởng ban Chỉ đạo; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, thành viên Ban Chỉ đạo, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương.

Sau khi nghe báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các ý kiến trao đổi tại phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị nghiêm túc và những ý kiến, kiến nghị tâm huyết, chỉ rõ kết quả bước đầu, những hạn chế và đề xuất nhiều giải pháp quan trọng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ghi nhận đã hoàn thành khối lượng công việc lớn sau nửa năm triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW. Cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương đã được thiết lập; nhiều văn bản quan trọng được ban hành, tạo cơ sở chính trị, pháp lý và tổ chức để triển khai nghị quyết. Một số địa phương chủ động xây dựng không gian sáng tạo, số hóa di sản, phát triển sản phẩm văn hóa và huy động doanh nghiệp, cộng đồng tham gia.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, đến tác động thực tế còn lớn. Thực tiễn bộc lộ “bốn khoảng trống” lớn cần được nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục. Đó là: Sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số. Phần lớn kho tàng di sản văn hóa dân tộc chưa được số hóa, chuẩn hóa, kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa trở thành tri thức số, nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia còn hạn chế. Thiếu một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực để chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới và động lực tăng trưởng của quốc gia.

Từ thực tiễn đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị quán triệt “ba chuyển dịch lớn”: Chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia. Chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số. Chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để tạo ra tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.

Định hướng nhiệm vụ thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa, bảo đảm văn hóa phát triển tương xứng với vị trí, vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Hoàn thiện cơ chế quản trị phát triển văn hóa theo hướng hiện đại, lấy dữ liệu, tiêu chuẩn và kết quả thực tiễn làm cơ sở đánh giá, điều hành; phát triển hạ tầng văn hóa số, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo và mở rộng không gian phát triển văn hóa. Rà soát, cập nhật, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển văn hóa phù hợp với yêu cầu giai đoạn mới, trọng tâm là Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển văn hóa với phát triển kinh tế-xã hội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, coi đây là nội dung hết sức quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan tham mưu định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức xã hội về giá trị văn hóa Việt Nam.

Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xây dựng và triển khai Chương trình phát triển không gian văn hóa số quốc gia; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các nền tảng, kênh truyền thông và hệ sinh thái nội dung văn hóa số mang bản sắc Việt Nam; đầu tư có trọng điểm đối với các tác phẩm, sản phẩm văn hóa có chất lượng nghệ thuật cao, khả năng tiếp cận công chúng lớn, có giá trị giáo dục và lan tỏa quốc tế.

Nêu rõ Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu hoàn thành việc số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý không được chạy theo tỷ lệ mà số hóa hình thức. Một di sản không thể được coi là đã số hóa chỉ vì đã được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin. Dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng; phải phục vụ được việc quản lý, giáo dục, nghiên cứu, du lịch, công nghiệp văn hóa…

Ban Chỉ đạo cần định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; không chỉ đánh giá bằng số lượng sản phẩm văn hóa được đưa lên môi trường số, mà phải đo lường bằng mức độ nhận diện, sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa Việt Nam và sự chuyển biến trong nhận thức, tình cảm, hành vi văn hóa của người dân, nhất là thế hệ trẻ.

Cùng với đó, khẩn trương hoàn thiện cơ chế xác lập, bảo hộ, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với các tài sản văn hóa được số hóa. Khuyến khích mạnh mẽ việc chuyển hóa chất liệu văn hóa Việt Nam thành các sản phẩm sáng tạo, tạo ra giá trị mới trong đời sống đương đại.

Để phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng phải xác định rõ lĩnh vực nào có khả năng tạo tăng trưởng; địa phương nào có thể hình thành trung tâm dẫn dắt; doanh nghiệp nào có năng lực; dự án nào có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và thị trường. Mỗi địa phương trọng điểm chỉ lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá ba dự án dẫn dắt. Mỗi dự án phải làm rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ, đóng góp dự kiến vào GRDP, việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, khẩn trương cụ thể hóa các nhiệm vụ, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

HẠNH NGUYÊN

Báo Nhân dân

Address

Bãi Cháy

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tuyên giáo & Dân vận phường Bãi Cháy- Tỉnh Quảng Ninh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share