04/09/2026
HƯỚNG DẪN
Một số biện pháp phòng bệnh, chăm sóc và xử lý bệnh Viêm da nổi cục trên trâu, bò
1. Đặc điểm bệnh Viêm da nổi cục
- Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC), còn được gọi là bệnh Da sần, là bệnh truyền
nhiễm do một loại vi rút thuộc họ Poxviridae gây bệnh trên trâu, bò. Vi rút VDNC
không lây nhiễm, không gây bệnh trên người.
- Đường truyền lây: Chủ yếu qua côn trùng đốt như muỗi, ruồi, ve, mòng...; qua
tiếp xúc trực tiếp với trâu, bò mắc bệnh; qua sử dụng chung máng ăn, máng uống, dụng
cụ mang mầm bệnh; lây truyền qua nhau thai, bê con sinh ra bị tổn thương trên da; bê
con đang theo mẹ có thể bị nhiễm bệnh qua sữa hoặc do tổn thương da ở núm vú; lây
truyền qua kim tiêm bị ô nhiễm trong quá trình điều trị hoặc trong quá trình tiêm phòng;
lây truyền qua đường giao phối tự nhiên hoặc qua thụ tinh nhân tạo. Thời gian ủ bệnh
trung bình từ 04 - 14 ngày.
- Bệnh thường xảy ra theo mùa, chủ yếu vào những tháng có thời tiết ấm, khi
côn trùng hoạt động mạnh.
2. Triệu chứng, bệnh tích
- Trâu, bò mắc bệnh có những dấu hiệu như: sốt cao, có thể trên 410C, bỏ ăn,
suy nhược và gầy yếu. Giảm khả năng tiết sữa rõ rệt ở gia súc đang cho con bú; viêm
mũi, viêm kết mạc và tiết nhiều nước bọt; sưng các hạch bạch huyết bề mặt (hạch trước
vai, hạch sau đùi); một số trường hợp sưng các khớp chân.
- Hình thành các nốt sần có đường kính từ 1 - 5 cm, đặc biệt là ở da đầu, cổ,
chân, bầu vú, cơ quan sinh dục trong vòng 48 giờ sau khi bắt đầu phản ứng sốt. Các
nốt sần này có hình tròn, chắc và nhô cao trên da, mô dưới da và đôi khi cả các cơ bên
dưới. Các nốt sần lớn có thể bị hoại tử và cuối cùng là xơ hóa, để lại các vết trong vài
tháng hoặc có thể tồn tại vĩnh viễn.
- Các mụn nước, vết hoại tử và vết loét có thể xuất hiện ở màng nhầy của miệng,
đường tiêu hóa, khí quản, phổi.
- Bò đực có thể bị vô sinh vĩnh viễn hoặc tạm thời; bò mang thai có thể sảy thai.
3. Một số biện pháp phòng, chống bệnh Viêm da nổi cục trâu, bò
3.1. Phòng bệnh
- Bệnh Viêm da nổi cục trên trâu, bò do vi rút gây ra, vì vậy tiêm phòng vắc xin
là biện pháp chủ động, hữu hiệu nhất để phòng bệnh. Sử dụng một trong các loại vắc
xin VDNC được cấp phép lưu hành, phù hợp với khuyến cáo của Cục Chăn nuôi và
Thú y (như: AVAC L*D LIVE, Lumpyvac,...), chỉ tiêm cho trâu, bò khỏe mạnh và
thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
4- Không mua trâu, bò mắc bệnh, nghi mắc bệnh Viêm da nổi cục và từ vùng dịch
Viêm da nổi cục về nuôi. Tổ chức chăn nuôi trâu, bò an toàn, không thả rông trâu, bò
theo đàn ăn chung; khi phát hiện trâu, bò có triệu chứng mắc bệnh cần cách ly, báo cáo
ngay cho lực lượng thú y để xác minh, hướng dẫn thực hiện các biện pháp xử lý, phòng,
chống dịch.
- Tăng cường chăm sóc cho đàn trâu, bò: thêm thức ăn tinh, thức ăn xanh, muối
khoáng, vitamin... trong khẩu phần ăn hàng ngày để tăng sức đề kháng; định kỳ tẩy
giun sán, phòng trị ký sinh trùng đường máu, tiêm đầy đủ các loại vắc xin phòng các
bệnh truyền nhiễm khác theo quy định.
- Thực hiện tốt vệ sinh chuồng trại hàng ngày, định kỳ tiêu độc, khử trùng môi
trường, dụng cụ chăn nuôi bằng hóa chất sát trùng được phép lưu hành có hoạt chất
như Iodine, benzalkonium chloride, glutaraldehyde, chlorine... (ví dụ Hanlusep BGF,
Han-Iodine 10% hoặc sản phẩm tương đương). Kiểm soát ruồi, muỗi, ve, mòng bằng
các chế phẩm có hoạt chất deltamethrin, permethrin, cypermethrin... (như Sakan-
Deltarin, Hantox-200 hoặc sản phẩm tương đương) theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Không phun trực tiếp hóa chất sát trùng lên gia súc nếu sản phẩm không có chỉ định.
- Đối với các hộ có trâu, bò bị bệnh, nghi bị bệnh: tăng cường vệ sinh, tiêu độc
khử trùng khu vực chuồng nuôi và kiểm soát côn trùng truyền bệnh; nồng độ, tần suất
sử dụng theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn và nhà sản xuất.
3.2. Điều trị một số triệu chứng kế phát đối với trâu, bò bị bệnh VDNC
- Nguyên tắc chung: Bệnh VDNC do vi rút gây ra, hiện không có thuốc điều trị
đặc hiệu; chủ yếu điều trị triệu chứng viêm, nâng cao sức đề kháng và xử lý nhiễm
khuẩn kế phát khi có chỉ định. Cần phát hiện sớm, xử lý kịp thời, tăng cường chăm sóc,
nuôi dưỡng cho trâu, bò.
- Khi trâu, bò mắc bệnh có thể sử dụng các loại thuốc, dung dịch trợ sức, trợ lực
như Glucose, NaCl 0,9%, Ringer lactate/điện giải; Vitamin C, B-Complex, A-D-E; các
chế phẩm chứa butafosfan và Vitamin B12... theo tình trạng con vật. Việc truyền dịch
tĩnh mạch phải do người có chuyên môn thực hiện.
- Khi con vật có biểu hiện sốt cao (xác định bằng cách đo thân nhiệt) có thể sử
dụng thuốc hạ sốt, giảm đau như Metamizole sodium (Analgin), Paracetamol... theo
hướng dẫn của nhà sản xuất và người có chuyên môn.
- Khi có ho, nhiều đờm hoặc cần hỗ trợ hô hấp có thể sử dụng Bromhexine
hydrochloride; trường hợp cần trợ tim có thể sử dụng Cafein natri benzoat theo chỉ
định của người có chuyên môn.
- Khi trâu, bò có biểu hiện đau, viêm, sưng có thể sử dụng thuốc kháng viêm,
giảm đau, hạ sốt có hoạt chất như Ketoprofen, Flunixin meglumine, Meloxicam... theo
chỉ định và hướng dẫn sử dụng.
- Sử dụng kháng sinh khi có bội nhiễm hoặc nhiễm khuẩn kế phát; lựa chọn
thuốc thú y được phép lưu hành có hoạt chất phù hợp như Amoxicillin LA,
5 Oxytetracycline LA, Florfenicol... theo chỉ định của người có chuyên môn. Không sử
dụng kháng sinh để điều trị vi rút VDNC và phải tuân thủ thời gian ngừng thuốc đối
với động vật cho thực phẩm.
- Trường hợp nghi mắc ký sinh trùng đường máu cần chẩn đoán và sử dụng
thuốc đặc hiệu được phép lưu hành (ví dụ thuốc có hoạt chất Diminazene aceturate)
theo hướng dẫn của người có chuyên môn. Ivermectin sử dụng cho nội, ngoại ký sinh
trùng theo chỉ định, không thay thế thuốc điều trị ký sinh trùng đường máu.
- Đối với các vết loét do bệnh VDNC: vệ sinh bằng nước muối sinh lý hoặc dung
dịch sát trùng dùng ngoài phù hợp như Iodine/Povidone-Iodine, thuốc tím pha đúng
nồng độ; trường hợp có nguy cơ nhiễm khuẩn có thể dùng chế phẩm xịt/bôi chứa
Oxytetracycline được phép lưu hành theo hướng dẫn.
- Căn cứ triệu chứng thực tế như ho, khó thở, tiêu chảy, chướng hơi, ký sinh
trùng... để áp dụng điều trị hỗ trợ phù hợp theo hướng dẫn của người có chuyên môn.
Chỉ sử dụng vắc xin, thuốc thú y, hóa chất có tên trong danh mục được phép lưu hành
tại Việt Nam; không sử dụng thuốc thú y cấm và thực hiện đúng liều lượng, đường
dùng thuốc, thời gian điều trị, thời gian ngừng thuốc theo nhãn sản phẩm.
3.3. Chăm sóc hộ lý
- Cách ly, nuôi nhốt gia súc ốm tại chuồng, giữ chuồng, nền chuồng khô ráo,
thoáng mát, lót rơm rạ khô sạch cho gia súc nằm.
- Tăng cường hộ lý, chăm sóc nuôi dưỡng, bổ sung đầy đủ thức ăn, nhất là các
loại thức ăn xanh non, mềm, dễ tiêu, đồng thời sử dụng các loại men tiêu hóa; không
nên sử dụng quá nhiều tinh bột ảnh hưởng đến nhu động của dạ cỏ.
- Đối với bê, nghé non thường rất yếu, tổn thương nhiều ở hệ hô hấp, do vậy
trong chăm sóc cần chú ý: đảm bảo đủ ấm, nếu cần có thể “mặc thêm áo” hoặc sưởi
ấm cho bê, nghé vào mùa đông; giữ chuồng luôn khô sạch; cho ăn uống đầy đủ dinh
dưỡng (nếu bê, nghé không tự ăn được phải bơm thức ăn như sữa, cháo gạo loãng qua
đường miệng); có thể phải lật con vật thường xuyên và đặt ở tư thế dễ thở.
- Đối với trâu, bò khi mắc bệnh có thể không đứng vững hoặc nằm bệt nên sử
dụng các dụng cụ hỗ trợ để gia súc đứng lên (võng), tránh liệt dạ cỏ; có thể phải lật con
vật thường xuyên và đặt ở tư thế dễ thở. Khi có biểu hiện giảm hoặc liệt nhu động dạ
cỏ, xử lý theo hướng dẫn của người có chuyên môn; có thể sử dụng Pilocarpin khi có
chỉ định.
Đề nghị UBND các xã, phường quan tâm, chỉ đạo cán bộ chuyên môn, lực lượng
thú y cơ sở tăng cường hướng dẫn người chăn nuôi chủ động phát hiện, phòng, trị bệnh
Viêm da nổi cục trên trâu, bò; thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng, tiêm phòng và kịp thời báo cáo, xử lý khi phát hiện gia súc mắc, nghi mắc bệnh, không để dịch lây lan./.