Công an xã Ayun, tỉnh Gia Lai

Công an xã Ayun, tỉnh Gia Lai CÔNG AN NHÂN DÂN

Chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa đặc biệt quan trọngNhân chuyến thăm chính thức củ...
07/08/2026

Chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Nhân chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia, phóng viên TTXVN tại Sydney đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và khu vực Đông Nam Á tại Đại học New South Wales, về ý nghĩa của chuyến thăm cũng như triển vọng quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Việt Nam và Australia trong bối cảnh hai nước đang bước vào giai đoạn triển khai thực chất khuôn khổ hợp tác mới.

Theo Giáo sư Carl Thayer, chuyến thăm Australia lần này có ý nghĩa đặc biệt bởi đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chuyến thăm diễn ra trong giai đoạn hai nước đang triển khai mạnh mẽ khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện, đồng thời hiện thực hóa cam kết duy trì các cuộc gặp thường niên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Điều này thể hiện quyết tâm của Việt Nam và Australia trong việc duy trì động lực phát triển quan hệ ở cấp độ cao nhất.

Đánh giá về các nội dung hợp tác có thể đạt được trong chuyến thăm, Giáo sư Carl Thayer cho rằng thương mại và đầu tư sẽ tiếp tục là những ưu tiên hàng đầu, đặc biệt là việc thúc đẩy mục tiêu tăng gấp đôi đầu tư song phương trong những năm tới. Bên cạnh đó, các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), an ninh mạng, công nghệ xanh và các công nghệ mới nổi cũng sẽ trở thành những hướng hợp tác trọng tâm, trong đó Australia có nhiều thế mạnh có thể bổ trợ cho quá trình phát triển của Việt Nam.

Theo ông, nông nghiệp công nghệ cao cũng là lĩnh vực có nhiều triển vọng hợp tác lâu dài giữa hai nước. Mặc dù chuyến thăm có thể chưa tạo ra những thỏa thuận cụ thể trong lĩnh vực này, song đây sẽ là một trong những định hướng hợp tác quan trọng trong thời gian tới.

Ngoài ra, Giáo sư Carl Thayer nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực tiếp tục là trụ cột quan trọng trong quan hệ song phương. Ông phân tích rằng hợp tác giáo dục giữa hai nước sẽ ngày càng tập trung vào đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế số. Australia cũng đặc biệt quan tâm đến việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học).

Theo đánh giá của Giáo sư Carl Thayer, khoảng 96% nội dung của Chương trình hành động hiện nay giữa hai nước đã được triển khai hoặc hoàn thành đúng tiến độ. Vì vậy, nhiều khả năng lãnh đạo hai nước sẽ nhất trí xây dựng một Chương trình hành động mới nhằm định hướng hợp tác trong giai đoạn tiếp theo.

Đề cập đến những cải cách thể chế và định hướng phát triển mới của Việt Nam sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Giáo sư Carl Thayer cho rằng Việt Nam đang tập trung vào bốn trọng tâm lớn gồm tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước và hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quy hoạch và điều phối phát triển; xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời tăng cường năng lực dự báo, quản trị rủi ro và khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường quốc tế. Ông cho rằng những định hướng này phản ánh hình ảnh một Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là một quốc gia tầm trung có trách nhiệm, chủ động và hội nhập sâu rộng hơn vào các vấn đề khu vực cũng như quốc tế.

Giáo sư Carl Thayer nhận định việc Việt Nam không chỉ ban hành các chủ trương phát triển mà còn chú trọng khâu tổ chức thực hiện, tiếp thu các thông lệ tốt và tiêu chuẩn quốc tế sẽ giúp thu hẹp khoảng cách về năng lực quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như phương thức hoạch định chính sách giữa hai nước. Điều này sẽ tạo điều kiện để Australia hợp tác với Việt Nam hiệu quả hơn trong nhiều lĩnh vực: từ công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo đến phát triển nguồn nhân lực. Theo ông, Việt Nam và Australia đang đối mặt với nhiều thách thức tương đồng trong quá trình phát triển, do đó hợp tác giữa hai bên sẽ ngày càng mang tính bổ trợ. Những cải cách mà Việt Nam đang triển khai sẽ giúp hai nước có thêm nhiều sự đồng thuận trong các lĩnh vực hợp tác trọng điểm.

Đánh giá triển vọng dài hạn của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Australia, Giáo sư Carl Thayer phân tích hai nước có nhiều lợi ích chiến lược và quan điểm tương đồng trong việc duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đề cao vai trò trung tâm của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bảo đảm an ninh khu vực Mekong cũng như duy trì hòa bình, ổn định và an ninh trên Biển Đông. Hai nước đều coi trọng hợp tác nhằm tăng cường an ninh hàng hải và ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, xuyên quốc gia.

Về khả năng chống chịu của nền kinh tế, theo Giáo sư Carl Thayer, Việt Nam và Australia đã có nền tảng hợp tác vững chắc thông qua các hiệp định thương mại tự do quan trọng như Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục bị gián đoạn, cả hai nước đều tiếp tục ủng hộ chủ nghĩa đa phương, hệ thống thương mại dựa trên luật lệ và vai trò của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), qua đó tạo nền tảng để phối hợp nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trong dài hạn.

Đối với phát triển bền vững, ông cho rằng cả Việt Nam và Australia đều đã cam kết thực hiện mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050 và đang triển khai nhiều chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Hai nước cũng cùng đối mặt với những bài toán về giảm phát thải, chuyển dịch năng lượng xanh, phát triển điện gió và năng lượng tái tạo.

Mặc dù Australia không phải là nhà tài trợ lớn nhất của Việt Nam, Giáo sư Carl Thayer nhận định hai bên vẫn còn nhiều dư địa hợp tác lâu dài trong các lĩnh vực chuyên sâu như chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản trị rủi ro. Theo ông, biến đổi khí hậu là thách thức toàn cầu và nếu các cơ chế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này suy yếu, tất cả các quốc gia đều sẽ chịu tác động. Vì vậy, Việt Nam và Australia cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ để duy trì các cam kết quốc tế.

Giáo sư Carl Thayer đánh giá cao cách tiếp cận của Việt Nam trong việc gắn triển khai chính sách với các mục tiêu, thời hạn và kết quả cụ thể. Theo ông, phương thức này tương đồng với văn hóa quản trị của Australia và sẽ tạo nền tảng để hai nước tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình hợp tác trong giai đoạn tới.

Ông tin tưởng rằng, bất kể những thay đổi có thể diễn ra trong đời sống chính trị Australia sau các kỳ bầu cử, nền tảng của quan hệ Việt Nam – Australia vẫn sẽ tiếp tục được duy trì vững chắc. Hai nước sẽ tiếp tục đồng hành trong dài hạn nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định tại Đông Nam Á, đề cao vai trò trung tâm của ASEAN và bảo đảm mọi hoạt động trên Biển Đông được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Diệu Linh - Lê Đạt - Trung Trang (TTXVN)

Chú thích ảnh: Giáo sư Carl Thayer. Ảnh: Lê Đạt/PV TTXVN tại Australia



Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia và New ZealandBộ Ngoại giao ra thông cáo sau:Nhận l...
07/08/2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand

Bộ Ngoại giao ra thông cáo sau:

Nhận lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9 đến 14/8/2026.

Báo Nhân dân

Chiều 10/9/2025 tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Toàn quyền Australia Sam Mostyn đang có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 9-12/9/2025. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)


Chuyên gia Canada đánh giá cao bản lĩnh đối ngoại của Việt NamViệt Nam đã nâng cao đáng kể vị thế quốc tế nhờ duy trì mố...
07/08/2026

Chuyên gia Canada đánh giá cao bản lĩnh đối ngoại của Việt Nam

Việt Nam đã nâng cao đáng kể vị thế quốc tế nhờ duy trì mối quan hệ mang tính xây dựng với các cường quốc, đồng thời kiên định với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ.

Những thành tựu này đang tạo nền tảng thuận lợi để Việt Nam và Canada tăng cường hợp tác thực chất trong bối cảnh kinh tế và địa chính trị toàn cầu có nhiều biến động.

Trả lời phóng viên TTXVN tại Canada nhân Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, bà Vina Nadjibulla, nguyên Phó Chủ tịch phụ trách Nghiên cứu và Chiến lược Quỹ châu Á-Thái Bình Dương, cho biết vị thế quốc tế của Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Theo bà, khả năng duy trì quan hệ có tính xây dựng với tất cả các cường quốc lớn, trong khi vẫn kiên định đường lối đối ngoại độc lập và tự chủ là một thành tựu ngoại giao đáng chú ý của Việt Nam.

Chính sách “ngoại giao cây tre” đã giúp Việt Nam tăng cường quan hệ với nhiều đối tác mà không bị phụ thuộc quá mức vào bất kỳ đối tác nào. Cách tiếp cận này càng có ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, kinh tế thế giới có xu hướng phân mảnh và sức ép buộc các quốc gia phải chọn bên ngày càng gia tăng.

Bà Nadjibulla, hiện là Đồng sáng lập và Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Quản trị chiến lược (CSS), nhận định biến động địa chính trị hiện nay đang khiến nhiều quốc gia chú trọng hơn đến những yếu tố tương đồng với cách tiếp cận của Việt Nam. Vì vậy, kinh nghiệm của Việt Nam có ý nghĩa không chỉ đối với Đông Nam Á mà còn có giá trị tham khảo rộng lớn hơn.

Việt Nam đã cho thấy một quốc gia có thể hợp tác thực dụng với các cường quốc đang cạnh tranh, đồng thời giữ vững những ưu tiên và lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, chuyên gia này cũng lưu ý rằng việc duy trì thế cân bằng đó sẽ ngày càng khó khăn khi cạnh tranh địa chính trị tiếp tục gia tăng.

Đánh giá về vai trò của Việt Nam trong chính sách khu vực của Canada, bà Nadjibulla khẳng định Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng nhất của Canada tại Đông Nam Á và giữ vị trí trung tâm trong nỗ lực tăng cường hợp tác của Canada với ASEAN cũng như khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong ASEAN. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh, năng lực sản xuất không ngừng mở rộng và mức độ hội nhập sâu vào các mạng lưới sản xuất khu vực cũng như toàn cầu đang biến Việt Nam trở thành một thị trường và đối tác chuỗi cung ứng ngày càng quan trọng đối với Canada. Tuy nhiên, sự mất cân bằng trong thương mại song phương hiện nay cho thấy Canada vẫn còn nhiều dư địa để mở rộng xuất khẩu, đầu tư và hợp tác kinh doanh tại Việt Nam. Việc khắc phục tình trạng này có thể giúp quan hệ kinh tế giữa hai nước phát triển cân bằng và bền vững hơn.

Theo bà Nadjibulla, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là nền tảng quan trọng để hai nước làm sâu sắc hơn quan hệ kinh tế. Việc Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch CPTPP năm 2026 sẽ tạo cơ hội để hai nước phối hợp nâng cao hiệu quả thực thi hiệp định này. Bên cạnh đó, tiến trình đàm phán một hiệp định thương mại tự do giữa Canada và ASEAN có thể tạo thêm khuôn khổ cho hợp tác thương mại và thể chế sâu rộng hơn.

Việt Nam có ý nghĩa đối với Canada không chỉ nhờ tiềm năng kinh tế mà còn nhờ vị trí chiến lược, ảnh hưởng ngoại giao trong ASEAN và sự ủng hộ đối với một hệ thống thương mại quốc tế mở. Trong bối cảnh Canada tìm cách đa dạng hóa thị trường, giảm sự phụ thuộc kinh tế quá mức và xây dựng các chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu cao hơn, Việt Nam có thể vừa là đối tác quan trọng, vừa là điểm tựa cho sự hiện diện lâu dài của Canada tại Đông Nam Á.

Đề cập tới những giải pháp nhằm phát huy tiềm năng quan hệ song phương, bà Nadjibulla cho rằng ưu tiên trước hết là nâng cao nhận thức và sự hiểu biết lẫn nhau. Mặc dù thương mại hai chiều đã tăng trưởng tích cực, nhiều doanh nghiệp Canada vẫn chưa hiểu đầy đủ về thị trường, năng lực công nghiệp và cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể hưởng lợi từ việc tăng cường tiếp xúc với công nghệ, kinh nghiệm chuyên môn và các đối tác thương mại của Canada.

Hai nước cũng cần xây dựng một chương trình nghị sự kinh tế mang tính chiến lược hơn, tập trung vào khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng và bảo đảm an ninh kinh tế. Hợp tác có thể được mở rộng trong các lĩnh vực hai bên có thế mạnh bổ trợ như nông nghiệp và thực phẩm, năng lượng sạch, khoáng sản thiết yếu, sản xuất tiên tiến, công nghệ số và hạ tầng giao thông.

Việt Nam và Canada cần tận dụng tốt hơn những ưu đãi và cơ hội do CPTPP mang lại, cũng như phối hợp thúc đẩy tiến trình đàm phán thương mại tự do giữa Canada và ASEAN. Hai bên cũng nên triển khai các biện pháp thiết thực để giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận cơ hội từ các hiệp định thương mại, đồng thời vượt qua những rào cản về quy định, hậu cần và thông tin thị trường.

Bên cạnh hợp tác kinh tế, bà Nadjibulla cho rằng hai nước còn nhiều dư địa để tăng cường phối hợp ngoại giao. Việt Nam và Canada đều đang hoạt động trong một môi trường quốc tế ngày càng phức tạp và phân mảnh, đồng thời cùng tìm cách duy trì quan hệ xây dựng với nhiều đối tác khác nhau. Chính phủ của Thủ tướng Canada Mark Carney đã đặt việc đa dạng hóa thương mại, tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế trong nước và phát triển các quan hệ đối tác chiến lược mới vào vị trí trọng tâm trong hoạt động quốc tế. Đây là những định hướng tạo thêm điểm giao thoa với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ của Việt Nam.

Theo chuyên gia này, Việt Nam và Canada có thể hợp tác chặt chẽ hơn với tư cách là những quốc gia tầm trung có cách tiếp cận thực dụng, thông qua các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, hay CPTPP và những diễn đàn đa phương khác. Hai nước cùng có lợi ích trong việc duy trì ổn định khu vực, thúc đẩy kinh tế mở, tôn trọng luật pháp quốc tế và bảo vệ một hệ thống quốc tế trong đó các quốc gia vẫn có quyền chủ động lựa chọn chính sách, thay vì bị buộc phải liên kết hoàn toàn với một cường quốc.

Bà Nadjibulla khẳng định những nền tảng cần thiết cho một quan hệ đối tác sâu rộng hơn giữa Việt Nam và Canada đã hiện hữu. Bước tiếp theo là hai nước cần dành sự quan tâm chính trị cao hơn cho quan hệ song phương, củng cố các mối liên kết thể chế và xây dựng một chương trình nghị sự tập trung hơn vào những lĩnh vực hợp tác thiết thực, cùng có lợi.

Bài và ảnh: Hà Linh (PV TTXVN tại Ottawa

Bà Vina Nadjibullah trong cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại Diễn dàn kinh doanh Việt Nam-Canada ở Toronto.


PHẢN BÁC TƯ TƯỞNG KÍCH ĐỘNG SINH VIÊN, THANH NIÊN VIỆT NAM HỌC THEO “PHONG TRÀO GEN Z” CỦA CÁC NƯỚC   ----Trong thời đại...
07/08/2026

PHẢN BÁC TƯ TƯỞNG KÍCH ĐỘNG SINH VIÊN, THANH NIÊN VIỆT NAM HỌC THEO “PHONG TRÀO GEN Z” CỦA CÁC NƯỚC

----
Trong thời đại bùng nổ thông tin và mạng xã hội, không ít luồng tư tưởng xuyên tạc, kích động hướng đến giới trẻ, đặc biệt là sinh viên và thanh niên Việt Nam, với mục đích xúi giục họ “học theo phong trào Gen Z của các nước” một cách mù quáng. Đây là một nhận thức lệch lạc, tiềm ẩn nguy cơ đẩy thế hệ trẻ Việt Nam đi chệch hướng khỏi bản sắc dân tộc và lý tưởng cách mạng mà các thế hệ cha ông đã xây đắp.

Trước hết, các thế lực thù địch thường lợi dụng sự nhiệt tình, tinh thần cầu tiến nhưng non nớt về nhận thức chính trị của tuổi trẻ để "nhồi nhét" tư tưởng kích động. Việc cổ súy những phong trào đấu tranh, biểu tình hay lối sống thực dụng, cá nhân cực đoan từ các nước phương Tây vào bối cảnh Việt Nam là nhằm mục đích chống phá, xâm phạm sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia.

Thứ hai, chúng vẽ ra những “mô hình xã hội hoàn hảo” ảo tưởng, hứa hẹn quyền lợi cá nhân tối thượng, trong khi lờ đi những giá trị to lớn mà Đảng và Nhà nước ta đã mang lại như: hòa bình, độc lập, tự do, phát triển, công bằng, văn minh... Vì vậy, Thanh niên Việt Nam cần phải tỉnh táo, không để bị lôi kéo vào các hoạt động “diễn biến hòa bình” hay các phong trào có dấu hiệu chống phá chế độ. Lịch sử và thực tế đã chứng minh, lý tưởng sống của thanh niên Việt Nam từ xưa đến nay là “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Sinh viên, thanh niên nước nhà đã và đang thể hiện rõ vai trò xung kích trên mọi mặt trận: từ học tập, nghiên cứu khoa học, bảo vệ chủ quyền biển, đảo đến tham gia các chương trình tình nguyện vì cộng đồng.... Đó là những phong trào xuất phát từ chính nhu cầu thực tiễn và tấm lòng yêu nước, chứ không phải những trào lưu ngoại lai được thổi phồng trên mạng xã hội. Vì vậy, hãy tin tưởng và phát huy những giá trị tích cực vốn có, đừng để bị cuốn theo những “làn gió lạ” có thể làm mất phương hướng.

Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế về mọi mặt, thanh niên Việt Nam cần chủ động rèn luyện bản lĩnh chính trị, tư duy phản biện và ý thức dân tộc. Các tổ chức Đoàn, Hội đã và đang tạo ra nhiều sân chơi bổ ích để thanh niên thể hiện năng lực, cống hiến tài năng trong khuôn khổ pháp luật và thuần phong mỹ tục của người Việt. Đó chính là cái nôi nuôi dưỡng những công dân toàn cầu nhưng vẫn mang đậm bản sắc dân tộc, vừa đáp ứng xu thế hội nhập vừa giữ vững nền tảng tư tưởng vững chắc.

Kết lại, mọi âm mưu lôi kéo, kích động thanh niên đi lệch hướng đều là những hành vi cần được phê phán và đấu tranh kiên quyết. Thanh niên Việt Nam hôm nay, được sống trong hòa bình và có cơ hội phát triển, phải biết trân trọng hiện tại, giữ vững tinh thần yêu nước, nêu cao cảnh giác cách mạng và khẳng định: tương lai của đất nước do chính người Việt Nam xây dựng, bằng chính sức mạnh và trí tuệ của mình, không theo bất cứ khuôn mẫu áp đặt nào từ bên ngoài.
-H08-

Triển khai nhiệm vụ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ ĐảngSáng 5/8, tại Trụ sở Trung ương Đảng, ...
06/08/2026

Triển khai nhiệm vụ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

Sáng 5/8, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ nhất để cho ý kiến về kế hoạch và định hướng triển khai nhiệm vụ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo, chủ trì phiên họp.

Phát biểu kết luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng, trực tiếp phục vụ việc bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chuẩn bị Đại hội XV của Đảng. Mục tiêu là xây dựng Điều lệ Đảng thật khoa học, chặt chẽ, ngắn gọn, dễ thực hiện và có sức sống lâu dài; làm cho tổ chức mạnh hơn, bộ máy thông suốt và trách nhiệm rõ hơn, quyền lực được kiểm soát tốt hơn, chất lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng cao hơn, quan hệ giữa Đảng với nhân dân chặt chẽ hơn. Đây cũng là quá trình Đảng tự soi lại mình, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về Đảng cầm quyền và hoàn thiện nền tảng tổ chức để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn mới.

Những nội dung cơ bản của Điều lệ Đảng hiện hành vẫn còn nguyên giá trị; nhưng chúng ta cũng không né tránh vấn đề mới do thực tiễn đặt ra như sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực và chuyển đổi số. Việc nghiên cứu phải bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng bộ với sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh năm 2011 và nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 2013.

Những nội dung còn đúng thì tiếp tục khẳng định; nội dung gây vướng mắc phổ biến hoặc tạo khoảng trống về tổ chức, thẩm quyền, trách nhiệm thì nghiên cứu sửa. Vấn đề chưa đủ độ chín thì tiếp tục tổng kết, thí điểm hoặc giải quyết bằng quy định, hướng dẫn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, tập trung tổng kết, nghiên cứu 4 nhóm nội dung lớn: Những vấn đề cơ bản về Đảng, đảng viên, tổ chức cơ sở đảng và mối quan hệ với Nhân dân; Hệ thống tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng trong mô hình mới; Kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng và kiểm soát quyền lực; Chuyển đổi số, các lĩnh vực đặc thù và kỹ thuật của Điều lệ. Không đưa vào Điều lệ Đảng nội dung quá chi tiết, thường xuyên biến động; cũng không để vấn đề cơ bản, đã đủ độ chín tiếp tục phân tán ở nhiều văn bản. Mỗi đề xuất phải trả lời rõ: Thực tiễn đặt ra vấn đề gì? Nguyên nhân nằm ở đâu? Vì sao phải sửa ở cấp Điều lệ? Có những phương án nào? Tác động và điều kiện thực hiện ra sao?

Về phương pháp nghiên cứu và tổ chức thực hiện, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước định hướng: Kế thừa nội dung Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011-2025), không làm lại từ đầu, không tổng kết theo lối hành chính. Trọng tâm là cập nhật thực tiễn sau sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện Quy định số 208-QĐ/TW ngày 26/7/2026 về thi hành Điều lệ Đảng; nhận diện đúng vấn đề cơ bản, phổ biến, lâu dài cần giải quyết ở cấp Điều lệ. Kết hợp khảo sát diện rộng với nghiên cứu sâu; số liệu gắn với trường hợp cụ thể; tổng kết thực tiễn với phát triển lý luận. Địa bàn khảo sát phải đại diện cho vùng, miền, cấp tổ chức, loại hình hoạt động; coi trọng cấp xã, tổ chức cơ sở đảng, chi bộ và địa bàn đặc thù. Việc lấy ý kiến phải nhiều vòng, đúng đối tượng, đúng vấn đề, thực chất.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện Quy chế làm việc, Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo; phân công nhiệm vụ các thành viên; thành lập Tổ Biên tập; hoàn thiện Báo cáo định hướng, Kế hoạch tổng kết thực tiễn và nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Phân chia thực hiện theo giai đoạn, có sản phẩm và kiểm soát chất lượng. Thực hiện nghiêm sáu rõ; một việc có một đầu mối chịu trách nhiệm chính. Bảo đảm tiến độ đồng bộ với tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130) và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội để trình Đại hội XV của Đảng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị nêu cao trách nhiệm, siết chặt kỷ luật, bắt tay ngay vào việc; không vì tiến độ mà hạ thấp chất lượng, cũng không lấy lý do thận trọng để kéo dài công việc. Vấn đề lớn, phức tạp hoặc còn ý kiến khác nhau phải kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo. Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo phối hợp Văn phòng Trung ương Đảng trình Trưởng ban Chỉ đạo ký ban hành các tài liệu phục vụ Ban Chỉ đạo ngay sau phiên họp.

ND

Thông cáo báo chí số 3, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVIThứ tư, ngày 5/8/2026, ngày làm việc thứ ba, K...
06/08/2026

Thông cáo báo chí số 3, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI

Thứ tư, ngày 5/8/2026, ngày làm việc thứ ba, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.

BUỔI SÁNG

Nội dung 1: Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường

Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội nghe các nội dung sau:

(1) Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).

(2) Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Tiến Hải, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

(3) Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản.

(4) Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về 3 dự án: Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản.

(5) Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

(6) Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

(7) Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.

(8) Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.

Nội dung 2: Quốc hội thảo luận ở Tổ về:

(1) Dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).

(2) Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản.

(3) Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

BUỔI CHIỀU

Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.

Tại phiên thảo luận có 17 lượt đại biểu phát biểu; các ý kiến đại biểu cơ bản nhất trí với nhiều nội dung trong Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội. Bên cạnh đó, các đại biểu tập trung cho ý kiến về các nội dung: Tên gọi, phạm vi điều chỉnh của Luật; việc bãi bỏ một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý đầu tư gắn với đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; rà soát danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; cơ sở thực tiễn, căn cứ pháp lý và tác động chính sách của việc bổ sung danh mục ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh đối với khí N2O; đối tượng quản lý, phạm vi điều chỉnh, căn cứ thực tiễn, mức độ rủi ro và sự cần thiết đề xuất bổ sung ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đối với hoạt động của cơ sở kinh doanh được ủy quyền cung cấp dịch vụ thị thực; hiệu lực thi hành; điều khoản chuyển tiếp; kỹ thuật lập pháp…

Kết thúc thảo luận, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan.

Tại phiên thảo luận có 11 lượt đại biểu phát biểu; các ý kiến đại biểu cơ bản đồng tình với các nội dung trong Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội. Bên cạnh đó, các đại biểu tập trung cho ý kiến về các nội dung: Thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan hải quan; hồ sơ hải quan; khai hải quan; quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan; nguyên tắc kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan; kiểm định hải quan trong hoạt động nghiệp vụ hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử; kiểm tra, giám sát hải quan, xử lý hàng hóa tồn đọng; kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh liên quan quyền sở hữu trí tuệ; kiểm tra sau thông quan… Ngoài ra, một số đại biểu ý kiến cần sửa đổi bổ sung nội dung về phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Kết thúc thảo luận, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Thứ năm, ngày 6/8/2026:

Buổi sáng, Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, nghe trình bày Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về 6 nội dung: (i) Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án (Nghị quyết của Quốc hội thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án); (ii) Việc thành lập thành phố Quảng Ninh; (iii) Việc thành lập thành phố Bắc Ninh; (iv) Chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội; (v) Việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; (vi) (Quốc hội họp riêng) Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế đặc thù để xử lý một số khó khăn, vướng mắc đối với các dự án điện gió, điện mặt trời.

Sau đó, Quốc hội thảo luận ở Tổ về 5 nội dung: (i) Việc thành lập thành phố Quảng Ninh; (ii) Việc thành lập thành phố Bắc Ninh; (iii) Chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội; (iv) Việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; (v) (Quốc hội họp riêng) Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế đặc thù để xử lý một số khó khăn, vướng mắc đối với các dự án điện gió, điện mặt trời.

Buổi chiều, Quốc hội thảo luận ở Tổ về 3 dự án: (i) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; (ii) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; (iii) Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án (Nghị quyết của Quốc hội thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án).

06/08/2026

🇻🇳 MỘT CỬ CHỈ NHỎ – MỘT BÀI HỌC LỚN

Hình ảnh Bác Hồ xoay đũa khi gắp thức ăn được nhiều người nhắc đến như một biểu hiện của lối sống giản dị, tiết kiệm và sự tinh tế, luôn nghĩ đến những người xung quanh.

Ở Bác Hồ mỗi việc làm nhỏ đều gợi nhắc những bài học lớn về nhân cách, sự khiêm nhường và lòng yêu thương con người. 🇻🇳






https://www.facebook.com/share/v/1K3vyEasLf/

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Lý 🇻🇳https://www.facebook.com/share/18mmZPHzBE/
05/08/2026

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Lý 🇻🇳
https://www.facebook.com/share/18mmZPHzBE/

🇻🇳 TRẦN THỊ LÝ – NGƯỜI CON GÁI ĐẤT QUẢNG VÀ Ý CHÍ KHÔNG KHUẤT PHỤC

Sinh năm 1933 tại xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay TP Đà Nẵng), Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Lý đã trở thành một biểu tượng tiêu biểu của lòng yêu nước và ý chí kiên cường của người phụ nữ Việt Nam.

Từ tuổi thiếu niên, người con gái đất Quảng đã tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1956, chị bị địch bắt và trải qua hơn hai năm tù đày, tra tấn. Khi được đưa ra miền Bắc chữa trị, cơ thể chỉ còn 26kg, mang trên mình nhiều thương tích, nhưng ý chí và niềm tin vẫn không hề lay chuyển.

Tưởng như sự sống đã khép lại, nhưng chị đã vượt qua những ngày tháng khắc nghiệt nhất để trở về.
Thân thể có thể bị tổn thương, nhưng khí phách của người chiến sĩ thì không thể khuất phục.
Câu chuyện về Trần Thị Lý đã lay động biết bao trái tim. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đến thăm, động viên chị; hình ảnh người nữ chiến sĩ nhỏ bé nhưng kiên cường cũng trở thành nguồn cảm hứng để nhà thơ Tố Hữu viết Người con gái Việt Nam.

Năm 1976, Trần Thị Lý được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Hơn cả một câu chuyện về nghị lực, cuộc đời chị là lời nhắc nhở về một thế hệ đã sống, chiến đấu và hy sinh với niềm tin son sắt vào Tổ quốc.

🇻🇳 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân nhân Trần Thị Lý – người con gái của đất Quảng. Nhỏ bé giữa cuộc đời, nhưng mang một ý chí lớn lao. Một cái tên đã trở thành biểu tượng của khí phách Việt Nam.

Address

Gia Lai

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công an xã Ayun, tỉnh Gia Lai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category