05/08/2026
🛑 HỆ THỐNG LIÊN LẠC BÍ MẬT CỦA TÙ BINH MỸ Ở VIỆT NAM
Các tài liệu giải mật, lời kể và hồi ký của cựu tù binh Mỹ ở Việt Nam cho thấy họ đã duy trì và phát triển một hệ thống liên lạc bí mật tinh vi dù bị giam giữ nghiêm ngặt.
Các phương thức liên lạc của tù binh Mỹ bao gồm liên lạc vô tuyến, kỹ thuật viết mật (secret writing), mã gõ (tap code), microdot, microfilm, cùng những bức thư và bưu thiếp được mã hóa gửi cho người thân rồi chia sẻ với các cơ quan tình báo Mỹ.
Những kỹ thuật đặc biệt này đã giúp Mỹ thu thập thông tin về tù binh và triển khai các kế hoạch giải cứu, trong đó nổi tiếng nhất là cuộc tập kích Sơn Tây năm 1970. Ít được biết đến hơn là Chiến dịch Thunderhead – một nỗ lực bí mật nhằm hỗ trợ tù binh trốn khỏi nhà tù Hỏa Lò vào năm 1972.
== Trích đoạn ==
Tháng 4/1970, Cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ thông báo cho Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương rằng Sơn Tây là một trại tù binh đang hoạt động. Một lá thư của tù binh có chứa một từ viết tắt bất thường: “REQMANORSAREPKMTBAVI”, có nghĩa là “Yêu cầu người hoặc tìm kiếm cứu nạn phía đông đỉnh núi Ba Vì”. Máy bay trinh sát và máy bay không người lái đã xác nhận thông tin của tù binh là đúng...
Một lực lượng giải cứu của Mỹ, di chuyển bằng trực thăng, đột kích vào trại vào tháng 11/1970 nhưng không thành công vì các tù binh đã được chuyển đi từ trước. Tuy nhiên, tù binh chiến tranh đã được cổ vũ tinh thần khi họ nhận được tin tức về chiến dịch đó.
Sam Johnson kể lại việc ông biết về vụ Sơn Tây khi đang ăn một viên kẹo cứng do vợ gửi. “Tôi cho một viên vào miệng và ngậm”, ông nói. “Tôi cảm thấy có vật gì cứng, giống như một mảnh nhựa nhỏ, dính vào vòm miệng. Khi tôi dùng ngón tay lấy nó ra, tôi thấy đó là một hạt nhỏ màu nâu, chỉ bằng đầu đinh ghim”. Sau khi Johnson chà xát hạt nhỏ ấy vài lần, nó nhanh chóng b**g ra, để lộ một dải microfilm chứa trang nhất bài báo của tờ The New York Times về cuộc tập kích Sơn Tây. “Lúc đó chúng tôi biết rằng tổ quốc đã không quên chúng tôi”, Johnson nói.
.. Ngoài microfilm, microdot và kính lúp Stanhope 1 inch dùng để đọc nó cũng được giấu trong các gói hàng mà tù binh nhận được vào năm 1970. Nhiều năm sau, Đại tá Không quân về hưu Donald Heiliger đã mô tả trải nghiệm của mình với microfilm (giấu trong hộp thịt Spam) và microdot (trộn vào các gói bột Kool Aid pha nước giải khát): “Chúng tôi phải lọc bột Kool Aid vị nho, vì các microdot có kích thước đúng bằng những hạt bột”.
Ưu điểm chính của công nghệ microdot là khả năng thu nhỏ lượng thông tin lớn xuống kích thước bằng đầu đinh ghim. Microdot có khả năng thu nhỏ phần chữ trên một trang giấy đánh máy tiêu chuẩn thành một dấu chấm cỡ 18 pt, chứa khoảng 200 đến 300 từ. Chương trình microdot là một trong những bí mật được bảo vệ nghiêm ngặt nhất trong chương trình liên lạc bí mật.
Các linh kiện vô tuyến cũng được giấu trong những gói quà gửi cho tù binh. Tuy nhiên, việc cất giấu hàng cấm là con dao hai lưỡi. Bắc Việt Nam thường xuyên kiểm tra tất cả các gói quà. Nếu phát hiện đồ cấm, họ có thể tiến hành lục soát toàn bộ các buồng giam, khiến những hoạt động bí mật khác có nguy cơ bị bại lộ.
===
🖼️ Tranh minh họa tù binh Mỹ dùng “tài sản” duy nhất là chiếc cốc rỉ sét để nghe trong khi liên lạc với tù binh khác bằng mã gõ.
📚 Nguồn: Nghiên cứu “Intelligence Support to Communications with U.S. POWs in Vietnam” (Hỗ trợ tình báo trong việc liên lạc với tù binh Mỹ ở Việt Nam), đăng trên tạp chí Studies in Intelligence, tập 60, số 1 (tháng 3/2016)
👉 Đọc bài lược dịch tại website Thư viện Nguyễn Văn Hưởng https://thuviennguyenvanhuong.vn/he-thong-lien-lac-bi-mat-cua-tu-binh-my-o-viet-nam.html