Thư viện Nguyễn Văn Hưởng - NVH Library

Thư viện Nguyễn Văn Hưởng - NVH Library Một thư viện tư nhân mở cửa rộng rãi cho công chúng. Thư viện do Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng thành lập tháng 10/2019, đặt tại Quận Long Biên, Hà Nội.

Thư viện Nguyễn Văn Hưởng là một trong những thư viện tư nhân có quy mô lớn và chuyên nghiệp nhất Việt Nam, hoạt động độc lập và mở cửa rộng rãi cho công chúng. Với mong muốn góp phần xây dựng một nền tảng tri thức tiến bộ và cởi mở cho độc giả Việt Nam, Thư viện NVH là một không gian mở để độc giả tự do học tập, nghiên cứu và khám phá thông qua nguồn sách và tư liệu phong phú, đa chiều xuất bản t

rong và ngoài nước. Thư viện NVH lưu giữ hơn 10.000 bản sách và tạp chí bằng tiếng Anh; hơn 7.000 tựa sách tiếng Việt về lịch sử, văn hóa Việt Nam và các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, lịch sử, địa lý, nhân học, nghệ thuật; hơn 1600 bản số hóa các tờ báo và sách xưa từng xuất bản ở Việt Nam. Thư viện NVH thường xuyên bổ sung các cuốn sách mới xuất bản vào bộ sưu tập của mình, đồng thời tiếp nhận đóng góp sách và tư liệu từ các cá nhân trong và ngoài nước… Bên cạnh đó, Thư viện còn chú trọng sưu tầm sách báo xưa, đặc biệt là sách xuất bản tại Việt Nam trước năm 1945 và sách báo về Việt Nam do Pháp xuất bản.

🛑 HỆ THỐNG LIÊN LẠC BÍ MẬT CỦA TÙ BINH MỸ Ở VIỆT NAMCác tài liệu giải mật, lời kể và hồi ký của cựu tù binh Mỹ ở Việt Na...
05/08/2026

🛑 HỆ THỐNG LIÊN LẠC BÍ MẬT CỦA TÙ BINH MỸ Ở VIỆT NAM

Các tài liệu giải mật, lời kể và hồi ký của cựu tù binh Mỹ ở Việt Nam cho thấy họ đã duy trì và phát triển một hệ thống liên lạc bí mật tinh vi dù bị giam giữ nghiêm ngặt.

Các phương thức liên lạc của tù binh Mỹ bao gồm liên lạc vô tuyến, kỹ thuật viết mật (secret writing), mã gõ (tap code), microdot, microfilm, cùng những bức thư và bưu thiếp được mã hóa gửi cho người thân rồi chia sẻ với các cơ quan tình báo Mỹ.

Những kỹ thuật đặc biệt này đã giúp Mỹ thu thập thông tin về tù binh và triển khai các kế hoạch giải cứu, trong đó nổi tiếng nhất là cuộc tập kích Sơn Tây năm 1970. Ít được biết đến hơn là Chiến dịch Thunderhead – một nỗ lực bí mật nhằm hỗ trợ tù binh trốn khỏi nhà tù Hỏa Lò vào năm 1972.

== Trích đoạn ==

Tháng 4/1970, Cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ thông báo cho Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương rằng Sơn Tây là một trại tù binh đang hoạt động. Một lá thư của tù binh có chứa một từ viết tắt bất thường: “REQMANORSAREPKMTBAVI”, có nghĩa là “Yêu cầu người hoặc tìm kiếm cứu nạn phía đông đỉnh núi Ba Vì”. Máy bay trinh sát và máy bay không người lái đã xác nhận thông tin của tù binh là đúng...

Một lực lượng giải cứu của Mỹ, di chuyển bằng trực thăng, đột kích vào trại vào tháng 11/1970 nhưng không thành công vì các tù binh đã được chuyển đi từ trước. Tuy nhiên, tù binh chiến tranh đã được cổ vũ tinh thần khi họ nhận được tin tức về chiến dịch đó.

Sam Johnson kể lại việc ông biết về vụ Sơn Tây khi đang ăn một viên kẹo cứng do vợ gửi. “Tôi cho một viên vào miệng và ngậm”, ông nói. “Tôi cảm thấy có vật gì cứng, giống như một mảnh nhựa nhỏ, dính vào vòm miệng. Khi tôi dùng ngón tay lấy nó ra, tôi thấy đó là một hạt nhỏ màu nâu, chỉ bằng đầu đinh ghim”. Sau khi Johnson chà xát hạt nhỏ ấy vài lần, nó nhanh chóng b**g ra, để lộ một dải microfilm chứa trang nhất bài báo của tờ The New York Times về cuộc tập kích Sơn Tây. “Lúc đó chúng tôi biết rằng tổ quốc đã không quên chúng tôi”, Johnson nói.
.. Ngoài microfilm, microdot và kính lúp Stanhope 1 inch dùng để đọc nó cũng được giấu trong các gói hàng mà tù binh nhận được vào năm 1970. Nhiều năm sau, Đại tá Không quân về hưu Donald Heiliger đã mô tả trải nghiệm của mình với microfilm (giấu trong hộp thịt Spam) và microdot (trộn vào các gói bột Kool Aid pha nước giải khát): “Chúng tôi phải lọc bột Kool Aid vị nho, vì các microdot có kích thước đúng bằng những hạt bột”.

Ưu điểm chính của công nghệ microdot là khả năng thu nhỏ lượng thông tin lớn xuống kích thước bằng đầu đinh ghim. Microdot có khả năng thu nhỏ phần chữ trên một trang giấy đánh máy tiêu chuẩn thành một dấu chấm cỡ 18 pt, chứa khoảng 200 đến 300 từ. Chương trình microdot là một trong những bí mật được bảo vệ nghiêm ngặt nhất trong chương trình liên lạc bí mật.

Các linh kiện vô tuyến cũng được giấu trong những gói quà gửi cho tù binh. Tuy nhiên, việc cất giấu hàng cấm là con dao hai lưỡi. Bắc Việt Nam thường xuyên kiểm tra tất cả các gói quà. Nếu phát hiện đồ cấm, họ có thể tiến hành lục soát toàn bộ các buồng giam, khiến những hoạt động bí mật khác có nguy cơ bị bại lộ.

===

🖼️ Tranh minh họa tù binh Mỹ dùng “tài sản” duy nhất là chiếc cốc rỉ sét để nghe trong khi liên lạc với tù binh khác bằng mã gõ.
📚 Nguồn: Nghiên cứu “Intelligence Support to Communications with U.S. POWs in Vietnam” (Hỗ trợ tình báo trong việc liên lạc với tù binh Mỹ ở Việt Nam), đăng trên tạp chí Studies in Intelligence, tập 60, số 1 (tháng 3/2016)
👉 Đọc bài lược dịch tại website Thư viện Nguyễn Văn Hưởng https://thuviennguyenvanhuong.vn/he-thong-lien-lac-bi-mat-cua-tu-binh-my-o-viet-nam.html

📚 HAI QUAN ĐIỂM ĐỐI LẬP VỀ VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANHNăm 1969 – 1970, cuộc tranh luận về tương lai của cuộc chiến ở Việt N...
01/08/2026

📚 HAI QUAN ĐIỂM ĐỐI LẬP VỀ VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH

Năm 1969 – 1970, cuộc tranh luận về tương lai của cuộc chiến ở Việt Nam ngày càng trở nên gay gắt trong đời sống chính trị Mỹ.

Chính quyền Tổng thống Richard Nixon bắt đầu theo đuổi chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” với mục tiêu từng bước chuyển giao gánh nặng chiến đấu cho quân đội Việt Nam Cộng hòa để Mỹ rút dần quân về nước nhưng vẫn giữ được miền Nam Việt Nam và cả bán đảo Đông Dương trong tầm ảnh hưởng của mình.

Tuy nhiên, nhiều chính trị gia và học giả phản chiến cho rằng chính sách này không phải là con đường dẫn tới hòa bình mà chỉ là một cách thức mới để kéo dài chiến tranh và sự can dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Chúng tôi giới thiệu tới bạn đọc hai văn kiện tiêu biểu phản ánh cuộc tranh luận đó.

⚡️Phát biểu trên truyền hình của Tổng thống Richard Nixon ngày 3/11/1969, trong đó Nixon trình bày chiến lược Việt Nam hóa và bảo vệ quyết định tiếp tục theo đuổi cuộc chiến nhằm đạt được một “nền hòa bình công bằng”.

⚡️Tuyên bố của Thượng nghị sĩ George S. McGovern trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ ngày 4/2/1970, trong đó ông chỉ trích gay gắt chính sách Việt Nam hóa, kêu gọi rút toàn bộ quân đội Mỹ khỏi Việt Nam và cho rằng sự hậu thuẫn của Washington cho chính quyền Sài Gòn là trở ngại chính đối với hòa bình.

Toàn văn bài viết 👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/hai-quan-diem-doi-lap-ve-viet-nam-hoa-chien-tranh.html
Ảnh: Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Melvin Laird báo cáo tiến độ rút quân khỏi Việt Nam tại một cuộc họp báo ở Washington D.C., ngày 16/10/1972

📚 CHIẾN DỊCH POPEYE: Mỹ thả hàng chục nghìn ống hóa chất kích thích mưa xuống Đông Dương (1967-1972)Trong giai đoạn từ n...
31/07/2026

📚 CHIẾN DỊCH POPEYE: Mỹ thả hàng chục nghìn ống hóa chất kích thích mưa xuống Đông Dương (1967-1972)

Trong giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1972, quân đội Mỹ đã tiến hành một chiến dịch tuyệt mật tại Đông Dương (được biết đến với tên gọi lịch sử là Chiến dịch Popeye). Đây được xem là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự thế giới, thời tiết được biến thành một loại vũ khí phục vụ chiến tranh.

Bằng cách thả hàng chục nghìn ống hóa chất kích thích mưa xuống Đông Dương, Lầu Năm Góc tham vọng kéo dài mùa mưa nhằm gây ra ngập lụt, qua đó cản trở và làm chậm quá trình di chuyển binh lính cùng hàng hóa tiếp tế của miền Bắc Việt Nam qua mạng lưới đường mòn Hồ Chí Minh.

Mặc dù bị giới chức Mỹ che giấu gắt gao trong nhiều năm, chiến dịch can thiệp thời tiết này cuối cùng cũng bị báo chí phanh phui, buộc các quan chức quốc phòng phải chính thức thừa nhận sự thật trước Quốc hội.

Mời bạn đọc bản dịch bài viết “U.S. Admits Rain‐Making From ‘67 to ‘72 in Indochina” (Mỹ thừa nhận tạo mưa ở Đông Dương giai đoạn 1967-1972) của Seymour M. Hersh trên báo The New York Times ngày 18/5/1974.

👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/my-thua-nhan-tao-mua-o-dong-duong-giai-doan-1967-1972.html

📚 CON ĐƯỜNG THIÊN LÝ VÀ LỊCH SỬ KẾT NỐI ANH - VIỆT THỜI CẬN ĐẠI Không giống mối quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ, Pháp, hay ...
23/07/2026

📚 CON ĐƯỜNG THIÊN LÝ VÀ LỊCH SỬ KẾT NỐI ANH - VIỆT THỜI CẬN ĐẠI

Không giống mối quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ, Pháp, hay Liên Xô/Nga, Trung Quốc hoặc các quốc gia láng giềng, quan hệ giữa Việt Nam và Anh, nhất là trong những buổi đầu tiếp xúc, đã không được nghiên cứu và phổ quát một cách rộng rãi.

Chính vì vậy, việc có những nhà nghiên cứu, những học giả tìm tòi những đơn hàng xuất nhập khẩu, những thư trao đổi qua lại giữa đại diện hai nước trong hàng triệu trang tư liệu cổ của Công ty Đông Ấn Anh mang một ý nghĩa hết sức đáng quý.

Alastair Lamb là một nhà nghiên cứu như thế. Là một sử gia về ngoại giao, nhưng ông có một phông nghiên cứu rộng về cả khảo cổ, lịch sử và quan hệ quốc tế; cũng như khả năng đọc, tìm hiểu những tư liệu gốc quý giá tại các trung tâm lưu trữ, thư viện ở nhiều quốc gia trên thế giới để cho ra đời những tác phẩm quý giá...

Đến năm 1970, kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó và sưu tập, bổ sung thêm một loạt tài liệu mới tìm được ở Phông Lưu trữ về Công ty Đông Ấn Anh tại các Thư viện Quốc gia Anh, Bảo tàng Anh , hay thư viện của các trường Đại học lớn và một số thư viện cá nhân, Lamb đã cho xuất bản công trình “The Mandarin Road to Old Hué: Narratives of Anglo-Vietnamese Diplomacy from the 17th Century to the Eve of the French Conquest”.

Có thể nói đây là công trình nghiên cứu đầy đủ đầu tiên của một học giả về quan hệ Việt – Anh đến trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng năm 1858.

Nhận thức được tầm quan trọng của công trình này, NXB Hội Nhà văn cùng với Thư viện Nguyễn Văn Hưởng đã đầu tư để Đinh Tuấn Nghĩa dịch dưới nhan đề “Con đường thiên lý: Hành trình kỳ lạ của các sứ bộ Anh quốc tới Việt Nam thế kỷ 17 -19”.

Phần lớn nội dung cuốn sách của Lamb không phải là những lập luận, đánh giá của tác giả về quan hệ Anh – Việt mà là tổng hợp, công bố những tư liệu như hồi ký, ghi chép, đánh giá thú vị của các đại diện Công ty Đông Ấn Anh, các thủy thủ trên tàu, hoặc thư từ trao đổi giữa Anh và Việt Nam còn được lưu giữ.

Những ghi chép đó là vô cùng quan trọng, quý giá để đưa ra thông tin về mối quan hệ còn nhiều điểm chưa được khai lộ như thực tế mối quan hệ thương mại Anh – Việt Nam trong thế kỷ XVII, hoặc những nỗ lực của người Anh trong tiếp xúc với triều đình và quan lại Việt Nam xuyên suốt mấy trăm năm; cũng như góp phần quan trọng vào việc cung cấp một góc nhìn của người Anh về con người, văn hóa, kinh tế và các mặt đời sống xã hội Việt Nam thời cận đại...

Mỗi một ghi chép đều chứa đựng những thông tin cụ thể về triều đình, tranh chấp quyền lực, phân bố địa giới hành chính, chế độ quan lại, quân đội, các sản phẩm hàng hóa, các thương cảng quan trọng, hoặc hoạt động của thương nhân nước ngoài ở Việt Nam.

TS. Trần Ngọc Dũng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) / Tạp chí Tia Sáng, ngày 05/03/2023

👉 Bạn đọc inbox Thư viện để đặt mua sách nhé!

CON ĐƯỜNG THIÊN LÝ
Alastair Lamb | Đinh Tuấn Nghĩa dịch, Nguyễn Thị Thúy Thúy hiệu đính
In 1000 cuốn | Khổ 16x24cm | Bìa cứng có áo | 500 trang
Bao gồm 36 tranh ảnh tư liệu xưa
Giá bìa: 460.000đ ---> giảm còn 380.000đ + freeship đến hết ngày 31/7/2026

🍀 MỞ BÁN LẦN CUỐI: MIỀN ĐẤT VÀNG ĐÔNG DƯƠNG: Tập sách tranh khắc gỗ của họa sĩ Emmanuel DefertChersonèse d’Or Indochine ...
22/07/2026

🍀 MỞ BÁN LẦN CUỐI: MIỀN ĐẤT VÀNG ĐÔNG DƯƠNG: Tập sách tranh khắc gỗ của họa sĩ Emmanuel Defert

Chersonèse d’Or Indochine (Miền đất vàng Đông Dương) là ấn phẩm tranh khắc gỗ của nghệ sĩ Pháp Emmanuel Defert (1878 – 1972), xuất bản lần đầu năm 1925 tại Hà Nội, ghi lại chặng đường rong ruổi suốt 20 năm của Defert tại Đông Dương. Ấn phẩm đặc biệt này được Thư viện Nguyễn Văn Hưởng tổ chức khảo cứu, dịch sang tiếng Việt và phát hành đầu năm 2022.

Emmanuel Defert sinh tại tỉnh Nièvre thuộc miền Trung nước Pháp. Ông cùng lúc vừa học luật vừa học mỹ thuật tại Paris. Thường xuyên lui tới xưởng của các thợ tranh khắc gỗ và khắc axit bậc thầy, ông bắt đầu học nghệ thuật khắc gỗ.

Năm 1905, ông sang Đông Dương thuộc Pháp để làm viên chức. Đầu tiên, ông ở Lào, ghé qua Xiêm La và Miến Điện, lưu trú dài ngày ở cả ba miền trên khắp đất nước Việt Nam, rồi định cư ở Hà Nội từ năm 1921. Ông cộng tác thường xuyên với tờ tạp chí phê bình văn học và nghệ thuật Les pages Indochinoises (Trang Đông Dương) và minh họa cho tờ này bằng các tranh khắc gỗ của mình.

Tập tranh Chersonèse d’Or Indochine của Emmanuel Defert mang vẻ đẹp tinh tế, từ nội dung (bao gồm các bức tranh khắc gỗ sống động, được điểm thêm những đoạn trích của các tác giả lớn như Rudyard Kipling hay văn chương, thần thoại bản xứ), hình thức (in hạng sang, khổ lớn) cho đến chất liệu giấy (làm từ bột thuần tre được sản xuất tại nhà máy giấy Đáp Cầu – Bắc Ninh). Những khung cảnh đặc sắc (rừng rậm, làng quê, phố cổ, đền đài, di tích, mồ mả, chùa chiền), cảnh sinh hoạt (chăn trâu, chèo thuyền, đánh cá, gồng gánh, mua bán, làm cầu), phong tục tập quán (con trai nối dõi, thờ cúng tổ tiên, vàng mã, lễ hội), văn hóa nghệ thuật (múa apsara, múa nghi lễ, mặt nạ tuồng, thổi khèn), văn học (truyền thuyết, thơ ca) cùng các hình ảnh, họa tiết đặc trưng về mặt tôn giáo (đạo Phật, đạo Hindu) đều được chọn lọc và thể hiện một cách sống động.

Sự hòa quyện các yếu tố từ màu sắc, phông chữ đến nội dung cuốn sách giống như một bản nhạc nhịp nhàng, tạo nên một tác phẩm mang lại nhiều mỹ cảm cho người thưởng thức. Đây là cuộc gặp gỡ giữa cổ kính với hiện đại, sự giao hòa giữa tranh và chữ, nét giao thoa giữa Đông với Tây, là thành tựu của sự hợp tác giữa những rung động nghệ thuật của người nghệ sĩ Pháp, với đôi bàn tay khéo léo của người thợ thủ công Việt Nam, tạo tác trong xưởng in của người Việt (nhà in Lê Văn Phúc).

Ngay khi mới xuất bản, cuốn sách Miền đất vàng Đông Dương đã nhận được nhiều lời ngợi khen trong giới nghệ thuật và báo chí Pháp:

📚 “Ông Bộ trưởng Thuộc địa, Léon Perrier khi thăm thú cuộc triển lãm thuộc địa đã dừng chân rất lâu trước tủ kính để mở xem tác phẩm có tầm vóc mà Emmanuel Defert giới thiệu. Cuốn Miền đất vàng Đông Dương là một ấn phẩm của các thợ khắc gỗ An Nam ở Hà Nội. Được in trên giấy bằng bột tre, những bức tranh khắc gỗ này thể hiện sự khéo léo hiếm có và tài nghệ tột đỉnh trong nghệ thuật khắc gỗ”. – Les Annales Coloniales, 21/5/1926

📚 “Một ấn phẩm sang trọng của ông Emmanuel Defert, thành viên Hội Nghệ sĩ Pháp, được in ấn để vinh danh xứ Đông Dương. Nhân đây, chúng tôi xin nói thêm rằng việc in chữ và tranh minh họa lên giấy tre rất hoàn hảo. Nó mang lại vinh dự cho nhà máy in của Pháp cũng như các nghệ sĩ Đông Dương”. – L’Oeuvre, 04/04/1926

Bên cạnh việc phục dựng các tờ tranh gốc và biên dịch các đoạn thơ văn đi kèm, dịch giả Nguyễn Bình Phương cùng ban biên tập còn chú giải kỹ lưỡng về nghệ sĩ Emmanuel Defert, ông Lê Văn Phúc, và các văn sĩ – tác giả của những đoạn trích trong tập tranh.

Ấn bản tiếng Việt năm 2022 được in với số lượng 600 bộ. Mỗi bộ bao gồm 48 tờ tranh phục dựng bản gốc tiếng Pháp (được in rời trên giấy mỹ thuật để độc giả có thể đóng khung trang trí cho không gian sống của mình), kèm bìa cứng bồi thủ công; và 1 quyển phụ chú gồm các phần dịch nghĩa, khảo cứu về tác giả, tác phẩm.

👉 Để sở hữu một trong những bản sách cuối cùng, bạn đọc vui lòng inbox Thư viện nhé.

🌹 PHÁT HÀNH TẠP CHÍ PHƯƠNG ĐÔNG SỐ THÁNG 7-2026Lời tòa soạn:Tháng Bảy luôn là một thời điểm đặc biệt trong đời sống tinh...
21/07/2026

🌹 PHÁT HÀNH TẠP CHÍ PHƯƠNG ĐÔNG SỐ THÁNG 7-2026

Lời tòa soạn:

Tháng Bảy luôn là một thời điểm đặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam. Đó là tháng của ký ức, của tri ân, của những suy ngẫm sâu xa về lịch sử, về sự hy sinh và trách nhiệm tiếp nối.

Ở phần Quan hệ quốc tế, Tạp chí Phương Đông số này tập trung phân tích những chuyển động mới trong cục diện thế giới. Cuộc đối đầu Mỹ - Iran, chiến lược mới của Washington tại Trung Đông, vai trò của Bộ tứ Kim cương QUAD trong cấu trúc Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, cũng như những điều chỉnh của nước Nga sau ba thập niên biến động, đều cho thấy thế giới đang bước vào một giai đoạn hết sức phức tạp. Các trung tâm quyền lực tiếp tục cạnh tranh, các liên minh và cơ chế hợp tác được tái định hình, trong khi những điểm nóng khu vực có thể tác động trực tiếp tới an ninh, kinh tế và đời sống của nhiều quốc gia.

Trong mạch phát triển đất nước, chuyên mục Kinh tế - Đời sống đặt trọng tâm vào những vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Biển không chỉ là không gian sinh tồn, mà phải trở thành không gian phát triển lớn của quốc gia. Khát vọng tăng trưởng hai con số không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà còn là phép thử về năng lực tổ chức, cải cách thể chế, phát huy nguồn lực xã hội và sức mạnh doanh nghiệp. Bên cạnh đó, kinh nghiệm nông nghiệp công nghệ cao của Israel, sự chuyển đổi của ngành bán lẻ truyền thống, cũng như hành trình 30 năm của Trung Nguyên Legend cho thấy: muốn phát triển bền vững, Việt Nam cần kết hợp giữa tầm nhìn dài hạn, đổi mới sáng tạo, bản lĩnh doanh nghiệp và năng lực xây dựng thương hiệu quốc gia.

Một điểm nhấn quan trọng của số báo tháng này là phần Tư liệu lịch sử. Những bài viết về Hội nghị Geneva 1954, “Kế hoạch tỷ đô” của Tổng thống Johnson, hai quan điểm đối lập về Việt Nam hóa chiến tranh, hệ thống liên lạc bí mật của tù binh Mỹ tại Việt Nam, hay việc Mỹ thừa nhận tạo mưa ở Đông Dương giai đoạn 1967-1972, giúp bạn đọc tiếp cận lịch sử từ nhiều chiều.

Đặc biệt, trong tháng Bảy tri ân, Tạp chí Phương Đông dành sự quan tâm sâu sắc tới Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27 tháng 7. Bài viết “27 tháng 7 – mệnh lệnh của trái tim và hành trình đưa các anh hùng liệt sĩ trở về” là lời nhắc nhở rằng, sự hy sinh của các thế hệ cha anh không bao giờ được phép phai mờ trong ký ức dân tộc. Cũng trong chuyên mục Văn hóa - Xã hội, số báo giới thiệu các bài viết về ngoại giao trong kỷ nguyên mới, về “sự tử tế” như nền móng đạo đức của một xã hội văn minh, về chuyên án CM12 từ lời kể của các nhân chứng lịch sử nhân ngày Truyền thống Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam 12/7. Những nội dung này gặp nhau ở một điểm chung: sự phát triển của một quốc gia không thể chỉ đo bằng những con số kinh tế, mà còn phải được đo bằng bản lĩnh chính trị, chiều sâu văn hóa, đạo đức xã hội và năng lực bảo vệ những giá trị cốt lõi của dân tộc.

Chúng tôi hy vọng mỗi bài viết trong số này sẽ gợi mở cho bạn đọc thêm những suy nghĩ về thời cuộc, về trách nhiệm của mỗi người trước sự phát triển của đất nước hôm nay.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

📚 Để đặt mua Tạp chí, bạn đọc vui lòng liên hệ hotline: 086 699 8638

🌹 Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi báo chí Mỹ như thế nào?Đã nhiều thập kỷ trôi qua, nhưng những ký ức đau thương về cuộ...
10/07/2026

🌹 Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi báo chí Mỹ như thế nào?

Đã nhiều thập kỷ trôi qua, nhưng những ký ức đau thương về cuộc chiến tranh tại Việt Nam vẫn không thôi ám ảnh những người đã từng trực tiếp đi qua chiến trận. Với nhà báo Mỹ Andrew Pearson, chúng không đơn thuần chỉ là những hồi cố cá nhân, mà còn là những bài học xương máu về đạo đức của người làm báo.

Qua bài viết “Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi báo chí Mỹ như thế nào?” đăng trên The New York Times ngày 29/3/2018, Andrew Pearson bộc bạch suy ngẫm của một phóng viên chiến trường về vai trò của báo chí trong việc giúp công chúng hình thành thái độ hoài nghi quyền lực, không mặc nhiên chấp nhận những “sự thật” được rao giảng sẵn.

Toàn văn bài viết 👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/chien-tranh-viet-nam-da-thay-doi-bao-chi-my-nhu-the-nao.html

Chân thành cảm ơn bạn đọc đã ghé thăm thư viện và để lại reviews 🤩
10/07/2026

Chân thành cảm ơn bạn đọc đã ghé thăm thư viện và để lại reviews 🤩

🍀 BÌNH MINH CỦA NỀN BÁO CHÍ ĐÔNG DƯƠNGCuối thế kỷ XIX, những tờ báo đầu tiên của xứ Đông Dương ra đời.  Trong cuốn sách ...
08/07/2026

🍀 BÌNH MINH CỦA NỀN BÁO CHÍ ĐÔNG DƯƠNG

Cuối thế kỷ XIX, những tờ báo đầu tiên của xứ Đông Dương ra đời. Trong cuốn sách La régime de la presse coloniale (Chế độ báo chí thuộc địa) xuất bản năm 1926, nhà báo người Pháp De Lansalut, quản trị viên tờ Courrier de Haiphong (Thời báo Hải Phòng), đã khái quát những nét quan trọng về buổi bình minh của nền báo chí nước ta.

== Trích đoạn ==

Ở xứ Viễn Đông này, Nam Kỳ sớm là thuộc địa của Pháp, bởi vậy hoàn toàn tự nhiên khi nơi đây là vùng đầu tiên xuất bản báo chí tiếng Pháp. [...] chỉ ngay năm 1865, ở Sài Gòn, tờ Courrier de Saigon (Sài Gòn thời báo) đã ra mắt, tức là trước cả khi xứ Nam Kỳ chính thức hoàn toàn thuộc về Pháp...

Vào những ngày đầu mới thành lập, Courrier de Saigon vừa là một tờ báo đưa tin, vừa là cơ quan công bố các văn bản chính thức của chính quyền Pháp, đăng song song với Le Bulletin officiel de la Cochinchine (Công báo Nam Kỳ). Khi tính quân sự phai mờ dần trong tiến trình chiếm đóng của quân Pháp, tờ Courrier de Saigon cũng dần trở nên độc lập hơn với chính quyền Pháp tại Nam Kỳ.

Và từ năm 1873, khi thiết lập nền hành chính dân sự quản lý các vấn đề bản xứ, nhiều cơ quan báo chí khác cũng lần lượt ra đời, dù phần lớn chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.

[...] Người ta chẳng thể tìm thấy báo nào có ảnh minh hoạ ở Nam Kỳ, chỉ trừ duy nhất một tạp chí là Bulletin Financier et Économique de l’Indochine (Tập san Tài chính và Kinh tế Đông Dương) chuyên viết về các vấn đề tài chính và kinh tế, đúng như tên gọi của nó, xuất bản hằng tuần tại Sài Gòn.

Mặc dù lượng người Pháp cư trú tại Bắc Kỳ (6.976 người) nhiều hơn so với Nam Kỳ (3.928 người), nhưng báo chí ở Bắc Kỳ lại kém phát triển hơn. Cũng giống như Nam Kỳ, báo chí tiếng Pháp ở Bắc Kỳ xuất hiện gần như đồng thời với quá trình chinh phục thuộc địa.

[...] Bổ sung vào hoạt động của các tờ báo nói trên, tại Bắc Kỳ còn có hai tạp chí chuyên về vấn đề kinh tế, có kèm minh hoạ; tạp chí ra đời sớm nhất là Moniteur économique de l’Indochine (Cố vấn kinh tế Đông Dương) và Éveil économique de l’Indochine (Thức tỉnh kinh tế Đông Dương), hai tạp chí này đã đều đặn xuất bản hằng tuần ở Hà Nội trong suốt 7 năm qua.

Để khép lại việc liệt kê các báo và tạp chí tiếng Pháp do người Pháp điều hành ở Đông Dương, ta còn phải kể đến R***e Indochinoise (Tạp chí Đông Dương) và Bulletin Économique de l’Indochine (Tập san Kinh tế Đông Dương) do nhà in Viễn Đông của Pháp trực tiếp kiểm soát và đảm nhiệm chi phí.

Nhà in này cũng cho xuất bản một tập san mang tên Les Amis du Vieux Hué (Những người bạn Cố đô Huế) – một tạp chí nghiên cứu lịch sử và khảo cổ viết riêng về An Nam, mà mỗi số phát hành đều có thể được coi như những tác phẩm nghệ thuật.

📚 Toàn văn bài viết còn giới thiệu sự ra đời của nhiều tờ báo tiếng Pháp đầu tiên ở Đông Dương cùng những nhận xét của tác giả về nền báo chí thuộc địa.
👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/binh-minh-cua-nen-bao-chi-dong-duong.html

Ảnh: Trong xưởng đúc bản in của nhà in Schneider ở Hà Nội, khoảng năm 1888-1895

🍀 VUA BẢO ĐẠI ĂN GÌ HẰNG NGÀY: NHỮNG BỮA CƠM GIẢN DỊ TRONG CUNG ĐÌNH HUẾ Ít ai ngờ, bữa cơm hằng ngày của Vua Bảo Đại lạ...
06/07/2026

🍀 VUA BẢO ĐẠI ĂN GÌ HẰNG NGÀY: NHỮNG BỮA CƠM GIẢN DỊ TRONG CUNG ĐÌNH HUẾ

Ít ai ngờ, bữa cơm hằng ngày của Vua Bảo Đại lại khá giản dị. Theo lời kể của Mệ Bông – người từng nấu ăn trong hoàng cung – nhà vua đặc biệt thích tôm chua, cá nục kho và những món rau dân dã của xứ Huế. "Ông Bảo Đại không ưa mắm, nhưng ông ấy ăn mắm tôm chua như điên", Mệ nói.

== Trích đoạn ==

Trái với sự tưởng tượng của mọi người, các hoàng đế ở Huế không chuộng những món yến tiệc cầu kỳ cho lắm. Các đại yến 60 món, trung yến 40 món, và tiểu yến 30 món với ảnh hưởng Trung Quốc thường được dùng để đãi quốc khách hay các quan. Còn mọi món ăn thường ngày để các hoàng đế ngự thiện, dùng bữa, có thể nói là đạm bạc.

Quả thật, theo sách Hội điển thì thời Thiệu Trị, thời thịnh triều của nhà Nguyễn, một bữa ăn của Hoàng đế được quy định không vượt quá 2,5 quan tiền. “Cứ nấu cho ngon thì cái gì các Ngài cũng ăn hết”, Mệ nói.

Mệ còn tiết lộ rằng thật ra các vua ít khi nào đụng đến những thực trân tươi sống ở các địa phương cung tiến về vì sợ độc và sợ bị đầu độc. Những thứ này phần nhiều được chia cho các quan, cung nữ, và thái giám.

Trước thời Hàm Nghi (1884-1885) các loại mắm nặng mùi không được phép dùng trong cung. Nhưng từ thời Thành Thái (1889-1907), nhiều vua Nguyễn đã có thời gian sống gần như thường dân ở ngoài cung, nên họ không kỵ các món này.

“Ông Bảo Đại không ưa mắm, nhưng ông ấy ăn mắm tôm chua như điên.” Mà mắm này phải do Mệ Bông làm. Ngoài các chất liệu cần thiết như riềng, tỏi, đường, ớt, Mệ Bông dùng nước mắm thay vì muối để làm món tôm chua phổ thông này của xứ Huế. Dù sao thì khi nấu nướng trong cung, Mệ dùng xì dầu nhiều hơn nước mắm.

Mệ Bông có một mối liên hệ rất đặc biệt với Hoàng đế Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương. Có lẽ vì họ gần nhau về tuổi tác. “Bà Nam Phương chỉ ăn đồ Tây, và ông Bảo Đại ăn theo bà.”

Trong cung có hai ông bếp chính là ông Lợi người Bắc, và ông Nghĩa người Quảng Nam để nấu các cỗ Âu. Mỗi khi triều đình cần đến tiệc Việt Nam thì Mệ Bông lại phải vào nấu. Cũng có khi Mệ phụ với Má Thống và Má Tròn, hai người bếp của các món Huế trong cung.

[...] Một món cá nữa được Vua Bảo Đại ưa thích là món cá nục kho của Mệ Bông. Cá nục rửa sạch rồi ướp nước mắm, đường, ớt, khoảng gần tiếng đồng hồ. Sau đó kho rất ít nước trong nồi đất trên lửa nhỏ, lâu cho nước trong cá tiết ra đã khô gần hết.

Món rau ưa chuộng của nhà vua cũng rất giản dị, đó là rau dền luộc chấm nước mắm do Mệ Bông pha. Để làm loại nước mắm này, Mệ hầm cá nục cho nhừ với nước mắm ruốc rồi chắt lấy nước. Sau đó trộn thêm đường và ớt.

📚 Mệ Bông còn kể nhiều chi tiết thú vị khác về bếp núc, ngự thiện và đời sống trong hoàng cung Huế. Mời bạn đọc toàn bài "Mệ Bông: Những ký ức về cung đình xưa" của tác giả Trịnh Bách
👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/me-bong-nhung-ky-uc-ve-cung-dinh-xua.html

Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay.-2002.-Số 110.-Tr.31-33
Ảnh: Hoàng hậu Nam Phương và Hoàng thái tử Bảo Long, năm 1937-1938

Address

Tầng 2, Almaz Market, Đường Hoa Lan, KĐT Vinhomes Riverside, Long Biên
Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thư viện Nguyễn Văn Hưởng - NVH Library posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Thư viện Nguyễn Văn Hưởng - NVH Library:

Shortcuts

Share

Category