26/07/2026
THÔNG CÁO VỀ MỘT SỐ ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐÍNH CHÍNH TRONG SÁCH TÀI SẢN SỐ .
Trong quá trình biên soạn cuốn Tài sản số - Cơ hội, thách thức và tương lai rộng mở. Do sự hiểu nhầm trong quá trình trao đổi giữa các tác giả và đội ngũ biên tập về một số khái niệm chuyên môn, một số thuật ngữ như "tiền điện tử" và "tiền mã hóa" đã bị sử dụng chưa thống nhất ở một vài vị trí trong sách. Điều này có thể làm giảm tính chặt chẽ và toàn diện của nội dung.
Tác giả xin chân thành nhận trách nhiệm về những thiếu sót này và gửi tới bạn đọc thông cáo đính chính và sớm có điều chỉnh phù hợp. Đồng thời, chúng tôi bổ sung một bài luận chuyên sâu nhằm làm rõ các khái niệm liên quan đến tiền tệ số tại Việt Nam, qua đó góp phần chuẩn hóa cách hiểu về các khái niệm trong lĩnh vực tài sản số, tạo cơ sở cho việc học tập, nghiên cứu cũng như tiếp cận các chính sách, quy định pháp luật về tài sản số tại Việt Nam trong thời gian tới."
**********************************************************************
Vì sao nhiều người vẫn nhầm giữa tiền điện tử và tiền mã hóa?
Khái niệm các loại tiền kỹ thuật số?
Trong nhiều năm qua, khi nhắc đến Bitcoin, Ethereum hay các đồng tiền số khác, phần lớn người Việt Nam thường gọi chung bằng những thuật ngữ quen thuộc như tiền ảo, tiền điện tử hoặc tiền số. Đây là những cách gọi phổ biến trong đời sống và trên truyền thông, tuy nhiên chưa phản ánh đầy đủ bản chất của từng loại hình tài sản và tiền tệ trong kỷ nguyên số.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số, công nghệ blockchain và quá trình hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số trên thế giới cũng như tại Việt Nam, hệ thống thuật ngữ trong lĩnh vực này ngày càng trở nên chuyên biệt. Những khái niệm như tiền điện tử (electronic money), tiền kỹ thuật số (digital currency), tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (Central Bank Digital Currency - CBDC), tiền mã hóa (cryptocurrency) và tiền ảo (virtual currency) tuy có nhiều điểm liên quan nhưng lại khác nhau về bản chất công nghệ, cơ chế phát hành, phạm vi sử dụng và địa vị pháp lý.
Trên thực tế, các thuật ngữ này vẫn thường bị sử dụng thay thế cho nhau trên báo chí, mạng xã hội và thậm chí trong một số tài liệu chuyên môn. Nguyên nhân xuất phát từ tốc độ phát triển rất nhanh của công nghệ tài chính, sự thiếu thống nhất trong quá trình chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt, cũng như việc hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện các quy định đối với các mô hình tài sản và tiền tệ số mới. Điều này khiến nhiều người dùng, nhà đầu tư và cả doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc phân biệt các khái niệm có bản chất và giá trị pháp lý hoàn toàn khác nhau.
Việc chuẩn hóa cách hiểu về các loại tiền kỹ thuật số không chỉ giúp người đọc tiếp cận đúng bản chất của từng loại tài sản mà còn tạo nền tảng cho hoạt động nghiên cứu, đầu tư, quản lý và xây dựng chính sách trong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ. Vậy các khái niệm trên nên được hiểu như thế nào và đâu là cách gọi phù hợp trong từng trường hợp? Bài viết này sẽ phân tích từng khái niệm dưới góc độ công nghệ, pháp lý và thực tiễn sử dụng, đồng thời đưa ra một số góc nhìn của tác giả nhằm góp phần làm rõ hệ thống thuật ngữ đang được sử dụng trong lĩnh vực tài sản số hiện nay.
Tiền mã hoá là gì ?
Tiền mã hóa là một loại tiền kỹ thuật số (tài sản số) được mã hóa để đảm bảo tính bảo mật và quyền riêng tư. Nó sử dụng công nghệ blockchain (công nghệ chuỗi khối) để ghi lại các giao dịch và đảm bảo tính xác thực của chúng mà không cần sự can thiệp của các bên trung gian như ngân hàng hay các tổ chức tài chính truyền thống. Tiền mã hóa cho phép người dùng trao đổi giá trị mà không phải thông qua các quy trình phức tạp của hệ thống tài chính truyền thống, có thể được sử dụng cho các giao dịch trực tuyến hoặc trên nền tảng blockchain. Các loại tiền mã hóa phổ biến hiện nay bao gồm Bitcoin, Ethereum, Litecoin và Ripple.
Tiền kỹ thuật số (digital currency)
Tiền kỹ thuật số là tiền hoặc các tài sản tương đương tiền được tạo ra, lưu trữ, quản lý và trao đổi trên các hệ thống thiết bị điện tử kỹ thuật số, đặc biệt là qua mạng internet. Tiền kỹ thuật số bao gồm nhiều dạng khác nhau như tiền điện tử (electronic money), tiền mã hóa (cryptocurrency), tiền ảo (virtual currency), Tiền kỹ thuật số của ngân hàng Trung ương (Central Bank Digital Currency - CBDC)...
Khái niệm về tiền điện tử
Căn cứ khoản 12 Điều 3 Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt (có hiệu lực từ ngày 1/7/2024), tiền điện tử là giá trị tiền Việt Nam đồng được lưu trữ trên phương tiện điện tử, được cung ứng trên cơ sở đối ứng với số tiền mà khách hàng đã trả trước cho ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cung ứng dịch vụ ví điện tử.
Đối với tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành (Central Bank Digital Currency - CBDC), hiện pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa chính thức. Tuy nhiên, để phân biệt rõ các khái niệm trong phạm vi bài viết, tác giả đề xuất cách hiểu như sau:
- Tiền điện tử (Electronic Money - e-money): Là biểu diễn điện tử của tiền pháp định, được phát hành trên cơ sở có số tiền pháp định đối ứng và do tổ chức được cấp phép cung ứng. Tiền điện tử không phải là một loại tiền mới mà chỉ là hình thức lưu trữ và thanh toán điện tử của tiền pháp định.
- Tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (Central Bank Digital Currency - CBDC): Là tiền pháp định do ngân hàng trung ương phát hành dưới dạng số, tồn tại hoàn toàn trên môi trường điện tử và có giá trị pháp lý tương đương tiền giấy, tiền kim loại do cùng ngân hàng trung ương phát hành.
Trong phạm vi bài viết này, thuật ngữ cryptocurrency được gọi chung cho các khái niệm liên quan tới tiền mã hóa. Dù thực tế các khái niệm này, mở rộng ra còn rất nhiều nội dung chi tiết khác, ví dụ tài sản mã hóa (cryptoasset) được sử dụng theo nghĩa rộng; bao gồm cả cryptocurrency, stablecoin và các loại token khác như NFT, Security Token, RWA.
Hy vọng những phân tích trong bài viết sẽ góp phần làm rõ bản chất của các loại tiền kỹ thuật số đang có, từ đó hỗ trợ quá trình tìm hiểu, đầu tư của các các nhân, doanh nghiệp và xây dựng chính sách phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế số Việt Nam.
Thay mặt đội ngũ - Lê Ngọc Anh (tác giả viết chủ đề tiền mã hóa)