Bảo Tàng Văn Học Việt Nam

Bảo Tàng Văn Học Việt Nam Baỏ tàng Văn học Việt Nam là nơi lưu giữ những hiện vật, câu chuyện văn học

Bảo tàng Văn học Việt Nam là nơi nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, giáo dục và phát huy giá trị các tài liệu, hiện vật của các danh nhân, các tác phẩm văn học tiêu biểu của nước nhà tới công chúng.

"HÁT BÂY GIỜ CÒN ĐỂ HÁT MAI SAU"                                                                       Hứa Anh Nhuệ (con...
10/07/2026

"HÁT BÂY GIỜ CÒN ĐỂ HÁT MAI SAU"
Hứa Anh Nhuệ (con gái nhà thơ Y Phương)

Sau khi cha tôi – nhà thơ Y Phương (tên thật là Hứa Vĩnh Sước) – tạ thế (9/2/2022), gia đình chúng tôi nhận được lời đề nghị từ cả Trung tâm Lưu trữ Quốc gia và Bảo tàng Văn học Việt Nam về việc sưu tầm, tiếp nhận các kỷ vật, hiện vật ông để lại. Tôi sâu sắc hiểu rằng, việc được các cơ quan lưu trữ cấp quốc gia và của Hội Nhà văn Việt Nam liên hệ là một niềm vinh dự mà không phải người cầm bút hay bậc trí thức nào cũng có được. Điều này một phần xuất phát từ tầm vóc sự nghiệp của cha tôi, người từng được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007 và được bầu chọn là 1 trong 50 tác giả văn nghệ tiêu biểu nhất Việt Nam giai đoạn 1975-2025.

Dẫu vậy, chúng tôi đã phải mất vài năm trời đắn đo, cân nhắc. Là một người con, tâm nguyện ban đầu của tôi là được tự tay lưu giữ những kỷ vật ấy, nhằm chủ động trong việc bảo quản cũng như phục vụ việc nghiên cứu, khai thác tư liệu của các nhà khoa học, các nhà phê bình văn học sau này.

Bước ngoặt đến sau cuộc gặp gỡ với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ – Giám đốc Bảo tàng Văn học Việt Nam, cùng những trao đổi chân tình, bền bỉ từ các cán bộ bảo tàng. Sự trân quý ấy đã giúp gia đình đi đến quyết định: trao gửi 18 kỷ vật gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của cha tôi cho Bảo tàng.

Trong số đó, có những tấm huy chương ghi dấu chặng đường của một người lính và một nhà thơ: Huy chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, và Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam. Bên cạnh đó là những vật dụng thiết thân, bình dị theo ông suốt năm tháng: từ căn cước công dân, hộ chiếu, bằng tốt nghiệp đại học sư phạm ngoại ngữ, thẻ bảo hiểm y tế, thẻ khám bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị, cho đến chiếc thẻ xe buýt, chùm chìa khóa, chiếc điện thoại, thanh chặn giấy bằng gỗ và chiếc bút lông mà ông viết thư pháp những năm cuối đời, và cả cuốn tổng tập thơ Tiếng hát tháng Giêng vừa xuất bản.

Trao đi những vật quý của gia đình, như lời thơ ông từng viết: "Câu hát này thiêng liêng lắm chứ - Hát bây giờ còn để hát mai sau", tôi đặt trọn niềm tin vào điều kiện lưu trữ, năng lực chuyên môn và đặc biệt là tấm lòng của đội ngũ Bảo tàng Văn học Việt Nam. Tôi hy vọng rằng, cùng với những hiện vật mà sinh thời cha tôi từng trực tiếp trao tặng, các kỷ vật mới này sẽ làm phong phú và vẹn tròn hơn không gian trưng bày về ông – nơi ông được trang trọng đứng cạnh những tên tuổi lớn của nền văn học nước nhà.

Mong rằng góc trưng bày ấy không chỉ phác họa chân thực chân dung một đời người, một nhà thơ dân tộc Tày tài hoa và hiện đại, mà còn hiển hiện hình ảnh của cả một thế hệ văn nghệ sĩ: những người đã sống thật sáng trong, trọn vẹn vượt qua muôn vàn gieo neo, thử thách, để thăng hoa và để lại cho đời một miền trí tuệ ngôn từ độc nhất vô nhị.

---------
🏨Bảo tàng Văn học Việt Nam
📍Địa chỉ: 275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội
⏰Giờ mở cửa: sáng 8h-12h; chiều 13h30-17h (từ thứ 2 đến thứ 6)
☎️Liên hệ: 086.505.1179
🌐Website: baotangvanhoc.vn
Ẩn bớt

🌻 CÁI CẦU – KHÚC CA VỀ TÌNH YÊU GIA ĐÌNH VÀ NIỀM TỰ HÀO QUÊ HƯƠNG 🌻✍️ Nhà thơ Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặ...
08/07/2026

🌻 CÁI CẦU – KHÚC CA VỀ TÌNH YÊU GIA ĐÌNH VÀ NIỀM TỰ HÀO QUÊ HƯƠNG 🌻

✍️ Nhà thơ Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông mang âm hưởng hào hùng của một thời hoa lửa, đồng thời thấm đẫm tinh thần nhân văn và tình yêu con người.

☘ Bên cạnh những tác phẩm nổi tiếng viết về người lính Trường Sơn, Phạm Tiến Duật còn dành nhiều tình cảm cho văn học thiếu nhi. Trong số đó, bài thơ Cái cầu đã trở thành một tác phẩm quen thuộc, gắn bó với nhiều thế hệ bạn đọc nhỏ tuổi.

💞 Bằng những hình ảnh gần gũi và ngôn ngữ trong sáng, bài thơ khắc họa hình ảnh những cây cầu do người cha xây dựng. Với em nhỏ, mỗi cây cầu không chỉ là công trình nối đôi bờ mà còn là biểu tượng của tình yêu thương, niềm tự hào và sự biết ơn đối với người cha đang ngày đêm lao động, góp sức dựng xây quê hương, đất nước.

📖 Với ngôn ngữ trong sáng, giàu hình ảnh và cảm xúc, bài thơ Cái cầu được lựa chọn đưa vào chương trình Tiếng Việt 4, tập 2 của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

📝 Thông qua tác phẩm, các em học sinh không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của quê hương, đất nước mà còn được bồi đắp tình yêu gia đình, lòng biết ơn và niềm tự hào đối với những con người đang ngày đêm lao động, cống hiến vì cuộc sống tốt đẹp hơn.

----------
🏨Bảo tàng Văn học Việt Nam
📍Địa chỉ: 275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội
⏰Giờ mở cửa: sáng 8h-12h; chiều 13h30-17h (từ thứ 2 đến thứ 6)
☎️Liên hệ: 086.505.1179
🌐Website: baotangvanhoc.vn
Ẩn bớt

"THÉP DƯỚI CỎ” CỦA NHÀ THƠ HỮU THỈNH:BẢN ANH HÙNG CA TRẦM TĨNH VỀ NGƯỜI LÍNH, LỊCH SỬ VÀ CHẤT THÉP NHÂN CÁCH            ...
07/07/2026

"THÉP DƯỚI CỎ” CỦA NHÀ THƠ HỮU THỈNH:
BẢN ANH HÙNG CA TRẦM TĨNH VỀ NGƯỜI LÍNH, LỊCH SỬ VÀ CHẤT THÉP NHÂN CÁCH
Nguyễn Việt Chiến

Ngày 1/7, tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, nhà thơ Hữu Thỉnh ra mắt tiểu thuyết đầu tay "Thép dưới cỏ". Đây là cuốn sách ghi lại những kỷ niệm của chính tác giả đã từng tham gia trực tiếp trận đánh hiệp đồng binh chủng đầu tiên của bộ đội Tăng thiết giáp, trận đánh Làng Vây ngày 7 tháng 2 năm 1968.

Nhà thơ Hữu Thỉnh đã từng có nhiều thành tựu với thể loại thơ trữ tình, trường ca, phê bình văn học, nhưng Tiểu thuyết là một thử nghiệm mới giúp ông chuyển tải khối lượng vốn sống phong phủ, tích lũy từ năm tháng tuổi trẻ.

Bảo tàng Văn học Việt Nam trân trọng giới thiệu lại bài viết của nhà báo - nhà thơ Nguyễn Việt Chiến với tiểu thuyết “Thép Dưới Cỏ” để bạn đọc có cái nhìn tổng quát về cuốn sách

"Hữu Thỉnh lâu nay được biết đến trước hết như một nhà thơ. Ở ông, cảm thức thơ ca thường gắn với ký ức làng quê, chiến tranh, người lính, thiên nhiên và những suy tư lắng sâu về phận người. Vì vậy, khi đọc tiểu thuyết Thép dưới cỏ, người đọc không chỉ bắt gặp một tác phẩm văn xuôi viết về chiến dịch Tà Mây - Làng Vây, về trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, mà còn thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn tìm kiếm phần nhân bản phía sau những sự kiện lớn của lịch sử.
Thép dưới cỏ không đơn thuần là một cuốn tiểu thuyết chiến tranh theo nghĩa kể lại một trận đánh. Dĩ nhiên, tác phẩm có chiến dịch, có sở chỉ huy, có bản đồ tác chiến, có các binh chủng, có xe tăng, pháo binh, công binh, bộ binh, hậu cần, trinh sát, những cuộc hành quân

và những trận đánh ác liệt. Nhưng nếu chỉ đọc tác phẩm như một bản tường thuật quân sự thì sẽ chưa thấy hết chiều sâu của nó. Điều đáng chú ý hơn là Hữu Thỉnh đã đặt trong câu chuyện Làng Vây một vấn đề lớn hơn: điều gì làm nên sức mạnh của người lính Việt Nam? Điều gì khiến một binh chủng còn rất trẻ có thể đi qua bom đạn, rừng núi, sông sâu, thiếu thốn, thử thách kỹ thuật để làm nên một chiến thắng có ý nghĩa lịch sử? Và sau chiến tranh, những con người làm nên sự kiện ấy còn mang trong mình những vết thương, ký ức, phẩm giá và niềm tin như thế nào?
Nhan đề Thép dưới cỏ có sức gợi đặc biệt. “Thép” trước hết gợi xe tăng, vũ khí, binh khí kỹ thuật hiện đại, sức mạnh đột kích của Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Nhưng “thép” không nằm lộ ra, không phô trương, mà ở “dưới cỏ”. Hình ảnh ấy gợi những chiếc xe tăng được ngụy trang dưới rừng cây, cỏ lá, âm thầm vượt Trường Sơn, bí mật tiếp cận chiến trường. Đồng thời, nó còn gợi một tầng nghĩa sâu hơn: chất thép của con người nhiều khi được giấu dưới vẻ bình dị của đời sống. Dưới lớp cỏ mềm của quê hương, của tình yêu, của tình đồng đội, của những câu chuyện đời thường là một bản lĩnh cứng cỏi, một ý chí không khuất phục, một phẩm chất có thể chịu được sức ép khốc liệt của chiến tranh. “Thép” vì vậy không chỉ là vật chất, mà là tinh thần. “Cỏ” không chỉ là ngụy trang, mà là phần mềm mại, nhân hậu, bình thường của con người. Chính sự kết hợp ấy làm nên chiều sâu tư tưởng của tác phẩm.
Chủ đề tư tưởng nổi bật đầu tiên của Thép dưới cỏ là sự tôn vinh người lính trong chiến tranh hiện đại. Hữu Thỉnh không miêu tả người lính như những biểu tượng chung chung, mà đặt họ vào những tình huống cụ thể, ở đó phẩm chất được thử thách bằng hành động. Những nhân vật như Ngô Xuân, Thành, Khoa, Tấn, Lê Quang Hải, Ngân, Nhị, Ngôn Thanh... không hiện lên bằng các lời tán dương trực tiếp, mà bằng công việc, trách nhiệm, sáng kiến, sự gan góc và cả những suy nghĩ rất đời. Họ không chỉ biết xung phong, mà còn biết tính toán, quan sát, sửa chữa, ứng biến, phối hợp binh chủng, lo từng bữa ăn, từng mắt xích, từng bao cát, từng phương án rút quân. Đó là kiểu anh hùng của chiến tranh hiện đại: dũng cảm nhưng không liều lĩnh, giàu tình cảm nhưng rất kỷ luật, biết hy sinh nhưng cũng biết suy nghĩ bằng trí tuệ quân sự.
Tác phẩm cho thấy chiến thắng Làng Vây không phải kết quả của cảm hứng nhất thời, mà là thành quả của trí tuệ tập thể. Những cuộc họp sở chỉ huy, những tranh luận giữa công binh, pháo binh, xe tăng, tham mưu, hậu cần, địa phương; những cân nhắc về hướng tấn công, phương án vượt sông Sê Pôn, cách sử dụng xe tăng bơi, cách đánh bóc vỏ, cách chống địch tái chiếm... tất cả làm nổi bật một tư tưởng quan trọng: chiến tranh không chỉ là nơi thử thách lòng dũng cảm, mà còn là nơi thử thách trí tuệ tổ chức. Hữu Thỉnh viết về chiến tranh bằng một cái nhìn tỉnh táo. Ông không chỉ quan tâm tới khí thế, mà còn quan tâm tới phương án, hậu cần, kỹ thuật, hiệp đồng, trinh sát, đường đi, cầu ngầm, cấp cứu thương binh. Nhờ vậy, chiến thắng trong tác phẩm có cơ sở, có chiều sâu, không bị biến thành huyền thoại đơn giản.

Tuy vậy, Thép dưới cỏ không khô cứng như một bản tổng kết chiến dịch. Sức sống của tác phẩm nằm ở chỗ Hữu Thỉnh luôn kéo lịch sử về với số phận con người. Sau những quyết định chiến dịch là những người lính thiếu ngủ, hốc hác, nhớ nhà, nhớ người yêu, viết nhật ký, đọc sách, làm thơ, đùa vui, đói mệt, sốt rét, đau dạ dày, thèm một bát rau giá, một bữa sắn đầu mùa, một chén nước gạo rang. Họ là những con người rất trẻ, rát mang theo gia đình, quê hương, tình yêu và những giấc mơ riêng vào chiến trường. Chính điều ấy làm cho tác phẩm có hơi ấm đời sống. Người lính không bị hóa thành công cụ chiến đấu. Họ vẫn là những con người đang sống trọn vẹn, yêu thương trọn vẹn và chiến đấu trọn vẹn.

Trong hệ thống nhân vật, Ngô Xuân là một hình tượng nổi bật. Anh hiện lên như linh hồn của đơn vị: giỏi chỉ huy, giỏi kỹ thuật, quyết đoán, sáng tạo, liêm khiết, thương yêu bộ đội và có uy tín tự nhiên. Những sáng kiến của anh trong hành quân, trong đối phó máy bay C- 130, trong chăm sóc bữa ăn bằng “rau Ông Xuân”, trong xử lý tình huống chiến đấu cho thấy một kiểu cán bộ quân đội vừa có bản lĩnh trận mạc vừa có chiều sâu nhân cách. Hữu Thỉnh không thần thánh hóa Ngô Xuân. Ông để nhân vật hiện ra qua cách sống, cách chỉ huy, cách xử lý việc nhỏ và việc lớn. Một người có thể làm chỗ dựa cho đồng đội không chỉ vì anh dũng cảm, mà vì anh đáng tin. Cái đáng tin ấy chính là chất thép nhân cách.

Một điểm đáng quý của tiểu thuyết là Hữu Thỉnh không chỉ viết về cuộc chiến với kẻ thù bên ngoài, mà còn viết về cuộc chiến bảo vệ sự trong sạch bên trong con người. Chi tiết thư nặc danh vu cáo Ngô Xuân lấy chiếc bật lửa Zippo là một chi tiết nhỏ nếu so với quy mô chiến dịch, nhưng lại có ý nghĩa tư tưởng lớn. Sau chiến công, sau hy sinh, sau những mất mát khốc liệt, một lời vu cáo hèn hạ có thể làm tổn thương phẩm giá con người. Từ đó, tác phẩm đặt ra câu hỏi: người lính không chỉ cần dũng cảm trước bom đạn, mà còn phải dũng cảm trước sự khuất tất, đố kỵ, nhỏ nhen. Những đồng đội đứng lên bảo vệ Ngô Xuân chính là bảo vệ sự thật, bảo vệ đạo đức quân đội, bảo vệ cái trong sáng của tình đồng chí. Đây là một lớp chủ đề rất nhân bản, khiến Thép dưới cỏ không rơi vào lối viết chiến công một chiều.

Tác phẩm cũng làm nổi bật quan hệ quân dân như một nguồn sức mạnh lịch sử. Nhân dân Hướng Hóa, đồng bào Vân Kiều, những cô gái chèo thuyền đuôi én, những người dân dẫn đường, che chở, cung cấp tin tức, tham gia phục vụ chiến dịch... đều là một phần của chiến thắng. Hữu Thỉnh nhìn chiến tranh không chỉ bằng con mắt quân sự mà còn bằng con mắt xã hội. Một trận đánh không chỉ do người lính ngoài mặt trận tạo nên, mà còn do những con người thầm lặng phía sau: dân công, giao liên, y tá, anh nuôi, công binh, địa phương, những người mẹ, người vợ, người yêu ở hậu phương. Vì thế, chiến thắng trong Thép dưới cỏ mang tính cộng đồng. Nó là kết quả của lòng dân, của hậu phương, của tình nghĩa và niềm tin chung.

Một chủ đề quan trọng khác là ký ức chiến tranh sau chiến tranh. Phần sau và phần kết của tác phẩm mở rộng không gian thời gian, đưa câu chuyện Làng Vây ra khỏi khoảnh khắc trận đánh để nhìn nó trong dư âm lâu dài. Những người lính trở về đời thường, gặp lại nhau, kể lại chuyện cũ, đối diện với quá khứ và với cả những người phía bên kia. Chi tiết cuộc gặp với nhân vật Jean Pao, nguyên cố vấn ở Làng Vây, cho thấy Hữu Thỉnh không xem lịch sử là chuyện đã đóng lại. Làng Vây tiếp tục sống trong ký ức của người thắng, người thua, người chứng kiến, người viết và các thế hệ sau. Có kẻ không thoát khỏi thù hận, có người tìm đến sự thật, có người giải mã quá khứ bằng tinh thần nhân văn. Vì vậy, tác phẩm không chỉ viết về sự kiện Làng Vây, mà còn viết về đời sống sau sự kiện, về số phận tinh thần của lịch sử.

Cảnh cuối thả chim là một hình ảnh rất đẹp, giàu tính biểu tượng. Sau chiến tranh, sau bom đạn, sau những xe tăng, hố bom, máu, mồ hôi, vu cáo, mất mát và hồi ức, những con người từng sống trong lửa đạn cùng nhau mở lồng cho đàn chim bay lên. Hình ảnh ấy có thể xem như một kết tinh tư tưởng của tác phẩm. Người lính không sinh ra để yêu chiến tranh. Họ đi qua chiến tranh để bảo vệ sự sống, để hướng tới tự do, hòa bình và lòng nhân hậu. Đàn chim bay cao mãi vào vô tận là biểu tượng của giải phóng, của thanh thản, của sự vượt thoát khỏi bạo lực. Nó làm mềm lại toàn bộ chất thép của cuốn sách, cho thấy dưới thép vẫn là cỏ, dưới chiến trận vẫn là khát vọng sống hiền lành.

Về phong cách nghệ thuật, Thép dưới cỏ trước hết là sự kết hợp giữa chất tư liệu lịch sử và hư cấu văn học. Hữu Thỉnh tự ý thức rất rõ rằng tác phẩm viết về Làng Vây nhưng không phải bản sao của lịch sử. Điều này giúp tiểu thuyết có được một vị trí linh hoạt: vừa dựa trên sự kiện, vừa có quyền sáng tạo nhân vật, tình huống, đối thoại, tâm lý, cấu trúc. Chất tư liệu làm cho tác phẩm vững, có độ tin cậy, có khí quyển lịch sử. Chất hư cấu làm cho tác phẩm sống, có số phận, có cảm xúc, có chiều sâu nhân vật. Đây là hướng đi phù hợp với tiểu thuyết lịch sử - chiến tranh: lịch sử là cái khung, nhưng văn học phải tạo ra linh hồn.

Một nét phong cách nổi bật là nghệ thuật tổ chức nhiều giọng nói. Tác phẩm có rất nhiều đối thoại: giữa các tướng lĩnh, giữa chỉ huy và chiến sĩ, giữa đồng đội với nhau, giữa người kể chuyện và nhân vật, giữa người hôm nay và ký ức, giữa ta và phía bên kia. Các cuộc họp quân sự được viết khá dài, nhưng không đơn điệu, bởi mỗi giọng nói đại diện cho một góc nhìn; tham mưu, công binh, pháo binh, xe tăng, hậu cần, địa phương, chính trị. Nhờ đó, chiến dịch hiện lên như một cơ thể nhiều bộ phận, nhiều trí tuệ, nhiều lo lắng và quyết tâm. Cách viết đa thanh này giúp tác phẩm tránh được sự độc thoại tuyên truyền.

Hữu Thỉnh cũng rất chú ý đến chi tiết. Những chi tiết như mắt xích hỏng, bánh chịu nặng, bao cát phủ đuôi xe, nước gạo rang, rau giá trong ống bương, cặp pin Văn Điển, chiếc bật lửa Zippo, bát cơm, chiếc võng, mùi hương bồ kết, bữa sắn đầu mùa, hai thanh

dầm cầu dùng làm cầu vệt... đều làm cho tác phẩm có độ thật. Đó không phải những chi tiết trang trí. Chúng vừa phản ánh đời sống người lính, vừa góp phần xây dựng tính cách. Một người chỉ huy biết nghĩ đến rau ăn cho bộ đội là một người chỉ huy có lòng. Một người không nhận chiếc bật lửa chiến lợi phẩm là một người giữ được sự trong sạch. Một người đứng che mưa cho chiến sĩ ghi thơ là người hiểu giá trị tinh thần giữa chiến tranh. Chính những chi tiết nhỏ ấy làm nên vẻ đẹp lớn.

Dù viết tiểu thuyết, Hữu Thỉnh vẫn giữ được chất thơ trong văn xuôi. Chất thơ không nằm ở việc làm mềm chiến tranh, mà nằm ở cách ông nhìn sự vật. Một hang đá sở chỉ huy có thể gợi ý nghĩ “lịch sử bắt đầu với sự hoang dã”. Một đội hình xe tăng lao qua khói lửa có thể được cảm như “con rồng đất”. Một cảnh hành quân mưa rừng, một bữa chia tay, một tiếng gọi mẹ giữa trận địa tan hoang, một đàn chim bay lên cuối sách đều mang âm hưởng trữ tình. Văn xuôi của Hữu Thỉnh vì thế vừa có tính kể, vừa có tính gợi. Ông không đánh mất con mắt nhà thơ khi bước sang tiểu thuyết. Trái lại, chất thơ giúp ông làm cho chất thép không trở nên khô lạnh.

Ngôn ngữ tác phẩm có sự đan xen giữa ngôn ngữ quân sự và ngôn ngữ đời thường. Khi viết về hội nghị tác chiến, ngôn ngữ rành mạch, nhiều thuật ngữ, nhiều phương án, nhiều mệnh lệnh. Khi viết về đời sống đồng đội, ngôn ngữ trở nên tự nhiên, hóm hỉnh, thô ráp mà thân mật. Những câu đùa của lính, cách gọi “tàu bờ”, cách nói về xích “hai bà một ông”, những lời đối thoại giữa bạn bè làm cho không khí tiểu thuyết bớt trang nghiêm đơn điệu. Hữu Thỉnh hiểu rằng người lính không chỉ sống bằng khẩu hiệu. Họ sống bằng tiếng cười, bằng tình bạn, bằng sự bông đùa, bằng khả năng làm nhẹ cái khốc liệt. Tiếng cười trong tác phẩm là một dạng sức mạnh tinh thần.

Kết cấu tiểu thuyết cũng đáng chú ý. Tác phẩm không đi theo một đường thẳng đơn giản từ chuẩn bị đến chiến đấu rồi kết thúc. Nó đan xen nhiều lớp: lời thưa của tác giả, không gian sở chỉ huy, hành quân, hồi ức cá nhân, nhật ký, thư từ, chuyện tình yêu, chuyện gia đình, trận đánh, tổng kết, hậu chiến, cuộc gặp sau nhiều năm. Cách kết cấu này làm cho Làng Vây không chỉ là một trận đánh mà là một trường ký ức. Mỗi nhân vật mang theo một đường đời riêng, một quá khứ riêng, một vết thương riêng. Nhờ đó, lịch sử được nhìn như tổng hòa của nhiều phận người.

Phong cách xây dựng nhân vật của Hữu Thỉnh thiên về hành động và tình huống hơn là phân tích tâm lý dài dòng. Nhân vật bộc lộ qua cách họ xử lý công việc, đối diện nguy hiểm, chăm sóc đồng đội, nhớ gia đình, chịu đựng nỗi đau, giữ gìn phẩm giá. Điều này phù hợp với không khí quân đội và chiến tranh. Trong môi trường trận mạc, nhân cách không được đo bằng lời tự bạch, mà bằng hành vi. Tuy vậy, tác giả vẫn dành những khoảng trữ tình cho thế giới nội tâm: nỗi nhớ mẹ, nhớ người yêu, nỗi đau trước đồng đội hy sinh, sự xấu hổ khi bị nhắc nhở ở thư viện, niềm xúc động khi nghe thơ mình qua sóng phát thanh. Những đoạn ấy giúp nhân vật không bị cứng như tượng đài.

Một thành công khác của tác phẩm là giọng điệu. Thép dưới cỏ có giọng sử thi nhưng không lên gân. Nó ca ngợi chiến thắng nhưng không che giấu mất mát. Nó tôn vinh người lính nhưng không làm người lính mất đi vẻ bình thường. Nó viết về anh hùng nhưng vẫn giữ được tiếng thở dài trước giá đắt của chiến tranh. Những đoạn viết về khẩu đội hy sinh, về trận địa Bầu Sao, về tiếng gọi “Mẹ ơi”, về thương binh, về mùi tử khí sau trận đánh đều cho thấy tác giả không tô hồng chiến tranh. Chính vì không tô hồng, lời ngợi ca trong tác phẩm trở nên đáng tin hơn.

Nhìn tổng thể, Thép dưới cỏ là một tiểu thuyết chiến tranh giàu ý nghĩa của Hữu Thỉnh. Chủ đề tư tưởng của cuốn sách tập trung vào việc khẳng định sức mạnh của con người Việt Nam trong chiến tranh hiện đại: sức mạnh của lòng yêu nước, trí tuệ tập thể, tình đồng đội, đạo đức quân nhân, bản lĩnh kỹ thuật, quan hệ quân dân và niềm tin vào chính nghĩa. Nhưng sâu hơn, tác phẩm còn nói về chất thép nhân cách ẩn dưới vẻ bình dị của đời sống; về ký ức chiến tranh không bao giờ khép lại; về khát vọng hòa bình nằm phía sau mọi chiến công.
Về nghệ thuật, cuốn sách là sự hòa quyện giữa tư liệu và hư cấu, giữa chất sử thi và chất đời thường, giữa văn xuôi quân sự và cảm quan thơ, giữa đối thoại chiến dịch và độc thoại nội tâm, giữa các chi tiết kỹ thuật chính xác và những hình ảnh trữ tình giàu biểu tượng. Hữu Thỉnh đã đem vào tiểu thuyết kinh nghiệm của một người lính, sự từng trải của một người viết, sự tinh tế của một nhà thơ và tình nghĩa của một người mang nợ với binh chủng đã nuôi dưỡng mình.

Có thể nói, Thép dưới cỏ không chỉ kể lại một chiến thắng. Nó làm sống lại một thế hệ. Một thế hệ “thép” mà không mất đi phần “cỏ”: cứng cỏi mà nhân hậu, gan góc mà giàu yêu thương, biết đánh thắng kẻ thù nhưng cũng biết thả chim lên trời xanh sau chiến tranh. Chính ở đó, tác phẩm đạt tới chiều sâu đáng quý: lịch sử không chỉ được ghi bằng chiến công, mà còn được giữ lại bằng nhân cách con người".

----------
🏨Bảo tàng Văn học Việt Nam
📍Địa chỉ: 275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội
⏰Giờ mở cửa: sáng 8h-12h; chiều 13h30-17h (từ thứ 2 đến thứ 6)
☎️Liên hệ: 086.505.1179
🌐Website: baotangvanhoc.vn

06/07/2026

“CUỐN SỔ DỰ TRỮ THƠ” CỦA NHÀ THƠ CHÍNH HỮU

Nhà thơ Chính Hữu là gương mặt tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, suốt đời gắn bó với hình ảnh người chiến sĩ. Trong sự nghiệp sáng tác, ông chỉ để lại khoảng 50 bài thơ, nhưng luôn khắc sâu trong lòng bạn đọc bởi giọng điệu chân thành, giàu cảm xúc và đậm chất nhân văn.

Trong hành trình sáng tác, “Cuốn sổ dự trữ thơ” là người bạn đồng hành thân thiết của ông. Cuốn sổ được nhà thơ Chính Hữu bắt đầu sử dụng từ tháng 1 năm 1968, ghi lại những ý thơ, tứ thơ, và cả những cảm xúc bất chợt nảy sinh giữa khói lửa chiến tranh.

Theo lời kể của nhà thơ Chính Hữu: những câu thơ này được ông viết khi đang tham gia chiến đấu ở chiến trường phía Tây Thừa Thiên Huế. Cảm hứng ấy đến từ cuộc gặp gỡ một người phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt, người mẹ sinh con giữa hai đầu chiến tuyến, trong khốc liệt của chiến tranh.

Đặc biệt, trong sổ còn ghi lại những dòng cảm xúc chân thành khi Bác Hồ qua đời: “9 giờ 47 phút ngày 3/9/1969, Bác mất. Chúng con xếp thành hàng ngũ trùng điệp đến viếng Bác, mấy hôm nay ngày nào cũng có mưa lớn… Từ ngày 6 đến 9/9/1969, nhân dân xếp hàng đi viếng Bác… dưới ảnh hưởng của cơn bão số 3, ở Hà Nội ngày nào cũng có những trận mưa lớn, hàng người bị ướt nhưng vẫn trật tự, giữ đúng hàng ngũ. Quảng trường Ba Đình, những lá cờ đỏ như giọt lệ của đất nước…” Những dòng chữ ấy không chỉ là ghi chép, mà còn là chứng nhân cảm xúc của một người lính, người nghệ sĩ trước nỗi mất mát lớn lao của dân tộc.

Từ ngày 2/6/1968 đến cuối tháng 7/1968, nhà thơ Chính Hữu còn dùng cuốn sổ để ghi nhật ký hành quân. Trong đó, ông kể lại hành trình qua Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và những ngày chiến đấu gian khổ ở Thừa Thiên Huế. Ở trang nhật ký ngày 2/6/1968, ông viết: “Tối 2/6/1968, 10 giờ đêm, xe đến phía Bắc Mường Noong (cây số 47, ngã ba Mường Noong là cây số 60…) bị oanh tạc, xe con bị cháy, mình bị thương ở chân và lưng, còn Biền, Quỳ – lái xe hy sinh…”

Cuốn sổ tay nhỏ bé ấy không chỉ là tư liệu sáng tác mà còn là chứng tích sống động về một thời chiến đấu và làm thơ của nhà thơ Chính Hữu.
----------
🏨Bảo tàng Văn học Việt Nam
📍Địa chỉ: 275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội
⏰Giờ mở cửa: sáng 8h-12h; chiều 13h30-17h (từ thứ 2 đến thứ 6)
☎️Liên hệ: 086.505.1179
🌐Website: baotangvanhoc.vn
Ẩn bớt

HỌC SINH LỚP 9 CÂU LẠC BỘ NGÔN NGỮ VÀ EQ THAM QUAN, TRẢI NGHIỆM VÀ HỌC TẬP TẠI BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAMSáng 3/7/2026, C...
03/07/2026

HỌC SINH LỚP 9 CÂU LẠC BỘ NGÔN NGỮ VÀ EQ THAM QUAN, TRẢI NGHIỆM VÀ HỌC TẬP TẠI BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM

Sáng 3/7/2026, Câu lạc bộ Ngôn ngữ và EQ phối hợp với Bảo tàng Văn học Việt Nam tổ chức chương trình tham quan, học tập và trải nghiệm dành cho học sinh lớp 9 đang tham gia sinh hoạt tại câu lạc bộ.

Trong hành trình khám phá không gian trưng bày, các em học sinh được tìm hiểu tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc qua các thời kỳ; chiêm ngưỡng nhiều hiện vật, bản thảo, tư liệu quý gắn với cuộc đời và sự nghiệp của các tác giả, tác phẩm tiêu biểu trong lịch sử văn học Việt Nam; xem phim tư liệu về “Nhà văn Nguyễn Quang Sáng”; trải nghiệm in chữ “Tâm” và “Tài” trên giấy Dó.

Kết thúc buổi tham quan, trải nghiệm, nhiều học sinh đã xúc động chia sẻ. Học sinh Tuệ Phương, lớp 9A3, Trường THCS Trần Duy Hưng “Em rất vui khi được đến tham quan Bảo tàng Văn học Việt Nam. Em thích nhất khu trưng bày về các nhà văn hiện đại. Chuyến trải nghiệm giúp em có thêm nhiều kiến thức về văn học, hiểu sâu hơn về các tác giả, tác phẩm đã học trong nhà trường. Em đặc biệt ấn tượng với không gian trưng bày về Chủ tịch Hồ Chí Minh khi được trực tiếp ngắm nhìn những bài thơ, những câu thơ chúc Tết của Người. Em mong sẽ có nhiều dịp quay trở lại tham quan Bảo tàng".

Em Minh Hằng, học sinh lớp 9 Trường THCS Thanh Xuân nhấn mạnh: “Em ấn tượng với không gian giới thiệu các nhà thơ đồng thời là những vị vua nổi tiếng thời Lý, thời Trần. Em cũng rất thích phần trưng bày về các nhà văn hiện thực phê phán, đặc biệt là tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao và “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố. Cách trưng bày khoa học, đẹp mắt giúp em dễ dàng tiếp nhận, hệ thống kiến thức và thêm yêu văn học Việt Nam. Chuyến tham quan cũng giúp em có thêm vốn hiểu biết để viết văn tốt hơn".

Học sinh Nguyễn Minh Hà, lớp 9 Trường THCS Lê Lợi (Hà Đông), cho rằng chuyến tham quan đã mang đến nhiều trải nghiệm bổ ích. “Em được tìm hiểu thêm về tiến trình lịch sử văn học, các tác phẩm nổi tiếng cũng như những câu chuyện thú vị gắn với các hiện vật trưng bày. Em đặc biệt yêu thích phần giới thiệu về văn học Việt Nam hiện đại và rất ấn tượng với đại thi hào Nguyễn Du cùng nhà văn Vũ Trọng Phụng. Đây là một chuyến đi ý nghĩa, giúp em có thêm nhiều kiến thức mới và những kỷ niệm đẹp với bạn bè”.

Thông qua các hoạt động tại Bảo tàng Văn học Việt Nam, các em được bồi dưỡng tình yêu văn học, khơi dậy niềm tự hào về di sản văn hóa dân tộc, qua đó góp phần mở rộng kiến thức, tăng cường khả năng cảm thụ văn học, tạo hứng thú trong học tập và phát triển kỹ năng quan sát, trải nghiệm thực tế cho học sinh.

----------------------
🏨Bảo tàng Văn học Việt Nam
📍Địa chỉ: 275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội
⏰Giờ mở cửa: sáng 8h-12h; chiều 13h30-17h (từ thứ 2 đến thứ 6)
☎️Liên hệ: 086.505.1179
🌐Website: baotangvanhoc.vn

🌟 LỤC VÂN TIÊN –  TÁC PHẨM TRUYỆN THƠ BẤT HỦ VỀ ĐẠO NGHĨA VÀ NHÂN CÁCH 🌟💖 Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng c...
02/07/2026

🌟 LỤC VÂN TIÊN – TÁC PHẨM TRUYỆN THƠ BẤT HỦ VỀ ĐẠO NGHĨA VÀ NHÂN CÁCH 🌟

💖 Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng của nền văn học yêu nước Việt Nam thế kỷ XIX. Trong di sản văn chương đồ sộ của ông, Lục Vân Tiên là tác phẩm tiêu biểu, kết tinh tư tưởng nhân văn sâu sắc và tinh thần dân tộc, được nhiều thế hệ bạn đọc yêu mến.

☀️ Qua hành trình đầy thử thách của chàng Lục Vân Tiên, tác phẩm ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam như lòng hiếu thảo, sự thủy chung, tinh thần trọng nghĩa khinh tài và khát vọng bảo vệ lẽ công bằng.

📚 Được tuyển chọn vào sách giáo khoa Ngữ văn 9 (tập 1) của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Lục Vân Tiên tiếp tục đồng hành cùng nhiều thế hệ học sinh. Trải qua thời gian, những giá trị tư tưởng và nhân văn của tác phẩm vẫn vẹn nguyên sức sống, trở thành di sản văn hóa tinh thần quý báu, góp phần bồi đắp nhân cách và nuôi dưỡng truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

📺 Kính mời quý thầy cô giáo, các em học sinh cùng đông đảo bạn đọc đón xem video clip giới thiệu tác phẩm Lục Vân Tiên để cùng khám phá những giá trị tư tưởng, nghệ thuật đặc sắc cũng như sức sống bền vững của một kiệt tác văn học dân tộc đã vượt qua thử thách của thời gian. Ẩn bớt

----------------------
🏨Bảo tàng Văn học Việt Nam
📍Địa chỉ: 275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội
⏰Giờ mở cửa: sáng 8h-12h; chiều 13h30-17h (từ thứ 2 đến thứ 6)
☎️Liên hệ: 086.505.1179
🌐Website: baotangvanhoc.vn
Ẩn bớt Ẩn bớt

NHÀ THƠ HỮU THỈNH RA MẮT TIỂU THUYẾT ĐẦU TAY “THÉP DƯỚI CỎ”Sáng ngày 1/7/2026 tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, nhà th...
01/07/2026

NHÀ THƠ HỮU THỈNH RA MẮT TIỂU THUYẾT ĐẦU TAY “THÉP DƯỚI CỎ”

Sáng ngày 1/7/2026 tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, nhà thơ Hữu Thỉnh ra mắt cuốn thiểu thuyết đầu tay “Thép dưới cỏ”. Tham dự có đông đảo các nhà văn, nhà thơ, đồng đội, bạn bè và độc giả.

“Thép dưới cỏ” là tiểu thuyết ghi lại những kỷ niệm của chính tác giả đã từng tham gia trực tiếp trận đánh hiệp đồng binh chủng đầu tiên của bộ đội Tăng thiết giáp, trận đánh Làng Vây ngày 7 tháng 2 năm 1968.

Nhà thơ Hữu Thỉnh chia sẻ: “Thật ra, tập sách nhỏ này đã được viết một phần từ năm 1968, ngay sau khi trận đánh then chốt Tà Mây - Làng Vây kết thúc. Lúc đó binh chủng Tăng - Thiết giáp tổ chức một trại sáng tác cho năm anh em gồm: Long Minh, Hoàng Đông, Văn Kha, Trần Khôi và Hữu Thỉnh. Chúng tôi đã lấy tài liệu khá kỹ từ đoàn cán bộ, chiến sỹ của Tiểu đoàn 198 vừa từ miền Nam ra…

Sau đó mỗi người được phân công viết một đơn vị hay một cá nhân trong đoàn. Cặm cụi viết một tháng, bản thảo hoàn thành. Cơ quan chính trị tổ chức đọc xin ý kiến tập thể. Trung tá, Phó Chính uỷ, kiêm Chủ nhiệm Chính trị Đào Văn Xuân chủ trì cuộc họp. Ý kiến đóng góp rất sôi nổi. Chính trị thế này. Tham mưu thế này. Kỹ thuật thế này. Hậu cần thế này. Quan hệ nhân dân thế này. Chỉ tuyệt không có ý kiến nào về nhân vật. Anh em chúng tôi biết là bị đặt vào tình trạng “đẽo cày giữa đường”, nhưng ai cũng cặm cụi ghi chép tiếp thu các ý kiến đóng góp, dẫn đến trùng lặp, giống nhau. Đặt riêng từng bài thì đọc cũng tạm được, nhưng gộp vào cả tập thì không ổn. Tình hình đó đòi hỏi phải có một “bàn tay” biên tập, nhưng không ai được cử làm việc đó. Chúng tôi để nguyên vậy, nộp lên cấp trên.

Gần 60 năm qua kết từ chiến dịch Tà Mây - Làng Vây, Binh chủng Tăng - Thiết giáp đã làm nên bao nhiêu chiến công hiển hách, tiêu biểu là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Gần 60 năm ấy, biết bao sự kiện đã diễn ra, kéo theo rất nhiều thay đổi về tầm nhìn, thị hiếu, về cách cảm, cách nghĩ. Vì thế, viết về Làng Vây phải thoả mãn nhu cầu của ngày hôm nay, người ta không chỉ muốn biết về những bí mật của Làng Vây mà còn muốn giải mã về nó. Người ta không chỉ bằng lòng về một sự kiện mà còn muốn biết số phận những con người làm nên sự kiện đó sau chiến tranh ra sao?

Không còn nhớ gần 60 năm trước, tôi đã viết những gì. Không một trang bản thảo nào của ngày ấy được giữ lại. Tôi bắt đầu bằng hai bàn tay trắng như các nhà văn vẫn thường làm.

Trong cuốn “Lịch sử Binh chủng Tăng - Thiết giáp”, Quân đội nhân dân Việt nam, trận đánh Tà Mây - Làng Vây chỉ được viết chưa đến năm trang đánh máy. Tôi xem đó là cái khung để tưởng tượng và hư cấu ra ngoài cái khung đó. Có một số nguyên mẫu được văn học hoá để làm tô đậm dấu ấn lịch sử, còn hầu hết các sự kiện và nhân vật đều là sản phẩm của sáng tạo. “Thép dưới cỏ” viết về Làng Vây, nhưng nó là Làng Vây của văn học, không phải là bản sao của lịch sử. Tôi đã dốc vào đây tất cả tình cảm của tôi sau 13 năm sống và phục vụ trong Binh chủng Tăng - Thiết giáp và xem đây là cách để trả món nợ lớn đối với cái nôi đã nuôi dưỡng tôi trưởng thành”.

Đánh giá về tác phẩm, nhà báo, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến chia sẻ: "Thép dưới cỏ là bản anh hùng ca trầm tĩnh về người lính, lịch sử và chất thép nhân cách."

Nhà văn Bắc Sơn nhận định: "Một cuốn tiểu thuyết đích thực với ý nghĩa đầy đủ nhất của nó, dưới bất kỳ góc nhìn nào."

Trong khi đó, nhà văn Lê Thành Nghị cho rằng: "Thép dưới cỏ không đơn thuần là một cuốn tiểu thuyết chiến tranh theo nghĩa kể lại một trận đánh, mà đặt ra vấn đề lớn: điều gì làm nên sức mạnh của người lính Việt Nam?"

Khép lại buổi ra mắt, nhà thơ Hữu Thỉnh bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Binh chủng Tăng - Thiết giáp, những người anh, người đồng chí, người bạn đã để lại trong ông biết bao nghĩa tình không thể nào quên. Ông cũng gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và đông đảo độc giả đã đến chia vui trong ngày ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tay.

Bảo tàng Văn học Việt Nam trân trọng chúc mừng nhà thơ Hữu Thỉnh cùng sự kiện ra mắt tiểu thuyết "Thép dưới cỏ", đồng thời kính chúc ông luôn dồi dào sức khỏe, tràn đầy cảm hứng sáng tạo và tiếp tục cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị.

----------------------
🏨Bảo tàng Văn học Việt Nam
📍Địa chỉ: 275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội
⏰Giờ mở cửa: sáng 8h-12h; chiều 13h30-17h (từ thứ 2 đến thứ 6)
☎️Liên hệ: 086.505.1179
🌐Website: baotangvanhoc.vn
Ẩn bớt

Address

20 Ngõ 275 Âu Cơ, Quận Tây Hồ
Hanoi

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00

Telephone

+84865051179

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bảo Tàng Văn Học Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Bảo Tàng Văn Học Việt Nam:

Shortcuts

Share