Sử Sách

Sử Sách Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Sử Sách, Library, Hoi An.

Áo dài is a Vietnamese national garment worn by both sexes but most commonly by women. Besides suits and dresses nowaday...
28/01/2022

Áo dài is a Vietnamese national garment worn by both sexes but most commonly by women. Besides suits and dresses nowadays, men and women can also wear áo dài on formal occasions.

KIẾN QUỐC ĐẠI VƯƠNG TRẦN TỰ KHÁNH - DANH TƯỚNG ĐẦU TIÊN CỦA TÔNG THẤT NHÀ TRẦNTrần Tự Khánh là một chính trị gia, viên t...
24/01/2022

KIẾN QUỐC ĐẠI VƯƠNG TRẦN TỰ KHÁNH - DANH TƯỚNG ĐẦU TIÊN CỦA TÔNG THẤT NHÀ TRẦN

Trần Tự Khánh là một chính trị gia, viên tướng trứ danh thời kỳ suy vong của triều đại nhà Lý, người lãnh đạo chính thống buổi đầu giành quyền lực của họ Trần.

Sau khi cha ông là Trần Lý qua đời, ông là người lãnh đạo gia tộc họ Trần trên con đường danh vọng. Ông dũng mãnh trí lược, đã cùng Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng các thế lực cát cứ chia 3 quốc gia bát phân thắng bại. Về sau, ông dẫn đại binh họ Trần kiểm soát triều Lý, được phong Thái úy, cùng anh trưởng Trần Thừa kiểm soát triều đình.

Sau khi qua đời, ông được Lý Huệ Tông truy tặng làm Kiến Quốc vương. Sau khi Trần Thái Tông lập ra nhà Trần, truy phong cho ông thành Kiến Quốc đại vương, ghi nhận sự quan trọng của ông trong việc thành lập nhà Trần.

1. THÂN THẾ

Trần Tự Khánh người hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, Đại Việt. Theo "Phả hệ họ Trần", Trần Tự Khánh là con thứ của Trần Lý, em của Trần Thừa và Linh Từ quốc mẫu. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì Trần Tự Khánh là em của Trần Thừa và là anh của Linh Từ quốc mẫu. Cuốn sử này không ghi rõ năm sinh của ông.

Theo vai vế, ông là anh họ của Trần Thủ Độ, và là chú ruột của Trần Thái Tông và Khâm Minh đại vương Trần Liễu.

Trần Tự Khánh lớn lên khi cơ nghiệp nhà Lý đã suy yếu, vào đầu thế kỷ 13 dưới thời Hoàng đế Lý Cao Tông. Triều đình quan lại chơi bời vô độ, dân chúng bị cùng khốn, loạn Phí Lang xảy ra nhiều tháng trời khiến triều đình suy kiệt. Các tướng lĩnh địa phương nhân lúc loạn lạc nuôi ý định xây dựng lực lượng riêng, trong đó có cha Trần Tự Khánh là Trần Lý ở Hải Ấp.

2. PHÒ THÁI TỬ NHÀ LÝ

Năm 1209, Cao Tông hoàng đế nghe lời gian thần Phạm Du, giết đại thần Phạm Bỉnh Di. Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc khởi binh báo thù cho chủ, đánh vào kinh thành Thăng Long, Cao Tông hoảng sợ cùng Hoàng hậu chạy lên Quy Hoá, thái tử Lý Hạo Sảm chạy về Hải Ấp, nơi Trần Lý cai quản. Quách Bốc vào triều, lập con thứ của Cao Tông là Lý Thầm lên ngôi. Thầm là con tỳ thiếp của Cao Tông nên bị xét là thứ xuất (con thị thiếp sinh ra), dù lớn tuổi hơn Lý Hạo Sảm.

Thái tử Sảm lấy con gái của Trần Lý, em Trần Tự Khánh là Trần Nhị Nương làm vợ. Nhân có chính lệnh của Thái tử, và có em vợ là Tô Trung Từ làm quan trong triều, Trần Lý có lý do phát triển lực lượng để đánh Quách Bốc. Trần Tự Khánh trở thành người đắc lực giúp cha và cậu thực hiện ý định đó.

Năm 1210, Tô Trung Từ và Trần Lý đánh bại Quách Bốc. Trần Tự Khánh theo giúp và lập được công. Trong khi đánh dẹp, Trần Lý bị tử trận Sử sách chép không rõ về cái chết của Trần Lý. Tô Trung Từ sai người rồi đến Hải Ấp rước Thái tử định đưa về kinh sư. Đàm Dĩ Mông là em vợ Cao Tông, dù đã hàng phục Quách Bốc và hoàng tử Thầm nhưng vẫn được giữ chức Thái sư. Trần Tự Khánh thay cha thống lĩnh binh chúng, được phong là Thuận Lưu bá, đóng quân ở Thuận Lưu (miền Hải Ấp, Hưng Hà, Thái Bình) nhưng không quy phục Cao Tông. Ông kéo quân về kinh thành, cướp bóc tài sản của hoàng cung, nhưng bị dân chúng kinh thành đánh đuổi.

Tháng 10 năm 1210, Cao Tông băng hà, Thái tử lên ngôi, tức là Lý Huệ Tông. Huệ Tông lập Trần Nhị Nương làm Nguyên phi, Tô Trung Từ được phong làm Thái uý. Để lấy lòng Tự Khánh, Huệ Tông phong ông làm Chương Thành hầu.

3. ĐẠI CHIẾN QUẦN HÙNG

Nghe tin vua Cao Tông mất, Trần Tự Khánh đem thủy quân đến bến Tế Giang (Mỹ Văn, Hưng Yên) xin với cậu là Tô Trung Từ cho cùng dự tang lễ Cao Tông, nhưng Trung Từ không cho vì sợ Tự Khánh lại làm loạn như lần trước. Tự Khánh phải đem quân về Thuận Lưu. Cũng tháng đó, Huệ Tông lập em gái Tự Khánh là Trần Nhị Nương làm Nguyên phi.

Tháng 7 năm 1211, Trung Từ đang đêm sang Gia Lâm tư thông với công chúa Thiên Cực, bị quan nội hầu Vương Thượng là chồng công chúa giết chết.

Tuy loạn Quách Bốc bị dẹp nhưng nhiều nơi còn cát cứ chưa hàng phục triều đình. Con rể của Tô Trung Từ là Nguyễn Ma La (cũng gọi là Nguyễn Đà La) thấy cha vợ bị giết, triều đình nghiêng ngả, bèn sang nói với anh cả Tự Khánh là Trần Thừa, xin tiến binh dẹp yên ấp Khoái. Nguyễn Ma La cùng với vợ là Tô thị (em họ Tự Khánh) lên thuyền sang đạo Thuận Lưu để gặp bộ tướng của Tô Trung Từ là Nguyễn Trinh thì bị Nguyễn Trinh giết rồi cướp lấy Tô thị đem về. Tô thị sai người tố cáo với Trần Thừa. Trần Thừa bèn sai Tô thị dụ được Trinh và giết chết.

Trần Tự Khánh nhân lúc Ma La kéo đi, kinh thành bỏ trống, lập tức mang quân về kinh sư. Theo Việt sử lược, ông an táng người cậu Tô Trung Từ ở làng Hoạch. Các tướng cát cứ ở Hồng châu là Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi nói vu Trần Tự Khánh với vua Huệ Tông rằng: "Trần Tự Khánh đem binh về kinh sư là muốn mưu đồ việc phế lập". Lý Huệ Tông tin là thật, nổi giận, tháng 7 bèn hạ chiếu cho các đạo binh đánh Trần Tự Khánh, và giáng Nguyên phi Trần Nhị Nương xuống làm Ngự nữ. Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi đem binh về kinh sư. Huệ Tông hạ chiếu tấn phong tước hầu cho Đoàn Thượng.

Họ Đoàn đem quân đánh anh em họ Trần ở ải Hoàng Điểm. Trần Tự Khánh sai bộ tướng Lại Linh cùng tướng Khoái Châu là Nguyễn Đường ra chống cự. Nguyễn Đường bị bắt. Tự Khánh bị thua, giận dữ phá đê cho nước sông chảy tràn vào các ấp rồi về. Miền Khoái Châu mất tin tưởng ở họ Trần, theo về với họ Đoàn.

Trong khi đó, Tự Khánh vẫn tiếp tục đánh chiếm các miền ở hai bờ sông Hồng để phát triển thế lực. Hai lần ông đánh bại tướng của Đoàn Ma Lôi là Đinh Cẩm, đóng ở Đọi Sơn (Duy Tiên, Hà Nam). Họ Trần kiểm soát được cả miền Lý Nhân (Hà Nam). Trần Tự Khánh tìm cách liên kết với hào trưởng Nguyễn Tự để tiêu diệt thế lực đối địch mạnh nhất của mình là họ Đoàn.

Đầu năm 1212, Trần Tự Khánh và Nguyễn Tự họp nhau ở bến Triều Đông, thề làm bạn sống chết có nhau, tận trung báo quốc, cùng bình họa loạn. Hai người chia nhau phạm vi chiếm cứ, lấy sông Lô, sông Thiên Đức (sông Đuống) làm giới hạn, mỗi người thống suất một bên Từ Thượng Khối (Bắc Ninh) đến Na Ngạn (Lục Ngạn, Bắc Giang), các hương ấp dọc theo sông Đuống và đường bộ là thuộc về Tự Khánh. Từ Kinh Ngạn bờ sông Hồng, (thuộc Kinh sư) đến Ô Diên (Hoài Đức, Hà Tây) thuộc về Nguyễn Tự, hẹn đến tháng 3 năm Nhâm Thìn thì họp binh tấn công đất Hồng Châu của họ Đoàn.

Bấy giờ Huệ Tông thấy thế lực họ Trần mạnh lên, bèn truyền cho văn võ bá quan đều phải nghe mệnh lệnh Trần Tự Khánh. Mặt khác, Huệ Tông lại cùng với thái hậu Đàm thị và một số cận thần vẫn ngầm mưu diệt họ Trần. Đầu năm 1213, thái hậu sai người đi với bọn tướng sĩ ở đạo Phù Lạc và đạo Bắc Giang, hẹn ngày cùng phát binh đánh Tự Khánh. Đúng ngày đã định, các tướng Phan Thế ở Phù Lạc, Ngô Mãi ở Bắc Giang tiến đến cửa Đại Hưng (cửa nam thành Thăng Long). Tự Khánh đang ở bến Đại Thông, nghe tin đó liền kéo quân lên kinh sư, vào cấm thành, đốt cầu Ngoạn Thiềm rồi lại trở về Đại Thông.

Sau khi chiếm được đồng bằng hạ lưu sông Hồng và sông Đáy (trừ miền Đại Hoàng), Tự Khánh phát triển thế lực lên Quốc Oai. Vùng Quốc Oai vốn thuộc phạm vi kiểm soát của Nguyễn Tự. Khi đó Tự chết, phó tướng là Nguyễn Cuộc thay thế. Tự Khánh tiến quân lên Quốc Oai, dụ hàng được Nguyễn Cuộc, thanh thế thêm mạnh.

Lý Huệ Tông bèn cùng thái sư Đàm Dĩ Mông tự làm tướng, hẹn với quân Hồng châu đi đánh Tự Khánh, đến Mễ Sở gặp quân của họ Trần do Vương Lê, Nguyễn Cải chỉ huy. Hai bên chưa giao chiến, quân của Lê, Cải mới hò reo tiến lên, quân triều đình đã tự tan vỡ. Vương Lê, Nguyễn Cải bắt được thuyền rồng. Cánh quân đạo Bắc Giang do thái sư Đàm Dĩ Mông thống xuất tới bến An Diên (Thường Tín, Hà Tây) thì bị quân của Trần Thừa tiến đánh.

Em họ Trần Tự Khánh là Trần Thủ Độ cùng Trần Hiến Sâm ở tả ngạn cũng tiến đánh thắng quân triều đình. Các tướng họ Trần khác là Phan Lân, Nguyễn Nộn từ Quốc Oai tiến đến chợ Dừa đánh thắng các tướng ở Hồng châu là Đoàn Cấm, Vũ Hốt. Lý Huệ Tông thất thế phải chạy lên Lạng Châu.

Tự Khánh chiếm được kinh đô. Vài ngày sau, ông sai người đem thư lên Lạng Châu gặp Huệ Tông và nói rõ ý mình rằng:

"Dân tình uất ức, không thấu được lên trên. Cho nên, nhân lòng giận dữ của người trong nước, thần khởi binh dẹp lũ đó, cắt trừ gốc họa, để yên lòng dân mà thôi. Đến như thân phận vua tôi, thần không dám phạm đến một chút nào. Ngờ đâu, phải gánh lấy tội chuyên quyền đánh dẹp, để khiến cho xa giá phải long đong, tự xét tội của thần thật đáng vạn lần chết. Xin bệ hạ nguôi cơn giận dữ, quay xa giá về kinh sư để thỏa lòng người mong muốn"
Nhưng vua Huệ Tông từ chối không theo Tự Khánh.

4. LẬP NGUYÊN VƯƠNG

Không đón được Huệ Tông về kinh, Tự Khánh triệu tập các vương hầu, bá quan bàn việc cải lập, sai người đón một người con của Lý Anh Tông là Huệ Văn vương đến bến Hạc Kiều, lập làm đế.

Tháng 3 năm Giáp Tuất (tháng 4 năm 1214), Huệ Văn vương lên ngôi ở điện Đại An, cải nguyên là Càn Ninh, hiệu là Nguyên Vương.

Anh em họ Đoàn tấn công đất Bắc Giang do tướng của Tự Khánh là Nguyễn Nộn đóng giữ. Hai bên đánh nhau ở núi Đông Cứu (Gia Lương, Bắc Ninh), Nguyễn Nộn giết chết được Đoàn Nguyễn. Tuy nhiên lúc đó nội bộ phe Tự Khánh xảy ra phản loạn lớn. Tướng ở Cam Giá (thị xã Sơn Tây) là Đỗ Bị lại nổi lên chống cự. Miền Cam Giá lại tách khỏi phạm vi thế lực của anh em họ Trần, hình thành một thế lực mới. Cùng lúc đó, Nguyễn Nộn ở Bắc Giang sau khi đánh được họ Đoàn cũng phản lại Tự Khánh, xây dựng một thế lực rất lớn. Do việc cát cứ của Đỗ Bị, Nguyễn Nộn, kinh thành Thăng Long bị uy hiếp. Tự Khánh lấy hết vàng bạc, của cải các kho và phóng hỏa đốt kinh đô rồi đưa vua mới là Càn Ninh xuống hành cung Lý Nhân (Hà Nam).

Nguyễn Nộn đem binh đến Thăng Long đánh nhau với Tự Khánh. Huệ Tông và thái hậu đang ở Nam Sách trở về Thăng Long, phong cho Nguyễn Nộn tước hầu để mượn tay Nộn chống họ Trần. Thế là sau khi nương tựa thế lực cát cứ địa phương họ Trần, họ Đoàn không được, nhà Lý lại liên minh với một thế lực cát cứ địa phương thứ ba là Nguyễn Nộn ở Bắc Giang. Cục diện trong nước lúc này đại thể hình thành ba thế lực: Phía bắc là Nguyễn Nộn, phía đông là Đoàn Thượng, phía nam là Trần Tự Khánh.

Ngoài mấy lực lượng lớn, còn có những thế lực nhỏ ở các địa phương. Một thế lực cát cứ khá quan trọng là Ô Kim hầu Lý Bát ở đất Ô Kim (Hoài Đức, Hà Tây) chống lại triều đình, nhưng không theo Tự Khánh. Ở Quy Hóa (miền Yên Bái, Tuyên Quang dọc sông Hồng) có họ Hà, cha truyền con nối cai trị đất trại này . Ngoài ra, còn thế lực cát cứ ở miền Đại Hoàng (Ninh Bình) của họ Phạm ở Nam Sách. Khắp nơi trong nước vẫn trong tình trạng hỗn loạn.

Đầu năm 1214, Huệ Tông chạy đến hương Bình Hợp (xã Tam Hiệp, Phúc Thọ, Hà Tây), Trần Tự Khánh được hào trưởng địa phương Đỗ Năng Tế giúp đỡ lấy lại Bình Hợp, rồi đem quân bao vây Thăng Long, đốt cung điện, phá nhà cửa. Huệ Tông phải dựng lều tranh để ở.

Tháng 5 năm 1214, ông mang quân đánh thắng lực lượng của Bùi Đô và Đinh Khả ở châu Đại Hoàng.

Đầu năm 1216, Huệ Tông lại lập Trần Nhị Nương (trước bị giáng xuống làm ngự nữ) làm Thuận Trinh phu nhân. Đàm Thái hậu cho Trần Tự Khánh là kẻ phản trắc, thường chỉ Trần Nhị Nương mà nói là bè đảng của giặc, bảo Huệ Tông đuổi bỏ đi; lại sai người nói với phu nhân bảo phải tự sát. Huệ Tông biết bèn ngăn lại. Đàm Thái hậu bỏ thuốc độc vào món ăn uống của phu nhân. Mỗi bữa ăn vua chia cho phu nhân một nửa và không lúc nào cho rời bên cạnh.

Tháng 4 năm 1216, lại xảy ra loạn lạc khác: các tướng ở Cảo Xã (Nhật Tảo, Từ Liêm, Hà Nội) là Đỗ Át, Đỗ Nhuế chống lại triều đình. Vua Huệ Tông dựa vào Lý Bát, sai Bát đánh lại, nhưng không thắng. Trước tình thế đó, Huệ Tông đành lại quay về nương nhờ anh em họ Trần.

5. PHÒ HUỆ TÔNG

Trần Tự Khánh sai bộ tướng Vương Lê đem thủy quân đi đón Huệ Tông sang Cứu Liên.

Khi đó trong triều, Đàm Thái hậu ngày ngày muốn giết Trần Nhị Nương, sai người cầm chén thuốc độc bắt phu nhân phải chết. Huệ Tông ngăn lại không cho, rồi đêm ấy cùng với phu nhân lẻn đi đến chỗ quân của Tự Khánh; gặp khi trời đã sáng, phải nghỉ lại ở nhà tướng quân Lê Mịch ở huyện Yên Duyên, gặp tướng của Tự Khánh là Vương Lê đem binh thuyền đến đón. Vua mới đỗ lại ở bãi Cứu Liên và truyền cho Tự Khánh đến chầu.

Tự Khánh đón được Huệ Tông, bèn phế Nguyên vương mà mình từng đưa lên ngôi xuống làm Huệ Văn vương.

Tháng 12 năm 1216, Thuận Trinh phu nhân Trần thị được phong làm Hoàng hậu. Từ lúc đó, anh em, thân thuộc họ Trần chiếm hết các chức văn võ quan trọng trong triều: Tự Khánh làm Thái úy, khi xướng lễ không phải gọi tên; anh trai ông Trần Thừa được phong tước Liệt hầu làm nội thị phán thủ; Trần Liễu (con cả Trần Thừa), Phùng Tá Chu, Phạm Kính Ân và Lại Linh được tước Quan nội hầu; con cả Tự Khánh là Trần Hải được phong tước Hiển Đạo vương. Nắm quyền lớn trong tay, Trần Tự Khánh quyết ý đánh dẹp Bắc Giang vương Nguyễn Nộn, Hiền Tín vương Lý Bát, Hồng hầu Đoàn Văn Lôi, Hà Cao ở Quy Hóa.

6. ĐÁNH ĐÔNG DẸP BẮC

Tháng 6 năm 1217, Đoàn Thượng thấy thế lực họ Trần mạnh, tạm quy hàng triều đình, được phong tước vương và vẫn giữ vùng Hồng châu.

Tháng 6 năm 1218, Trần Thừa và Trần Tự Khánh gả em gái là Trần Tam Nương cho Đoàn Văn Lôi (Hồng hầu) thu phục đất Hồng Châu. Thế là họ Trần tạm dẹp yên được một thế lực chống đối quan trọng.

Tự Khánh tiến đánh thế lực cát cứ của Đỗ Bị ở Cam Giá. Các thuộc ấp ở Phong châu đều ra hàng.

Tự Khánh lại đánh Lý Bát chiếm lại đất Từ Liêm. Lý Bát phải chạy lên miền thiểu số ở sách An Lạc (Vĩnh Phúc).

Tháng 5, năm 1220, Trần Tự Khánh tiến đánh Hà Cao ở Quy Hoá, chia quân làm hai đạo: Tự Khánh, Trần Thừa theo sông Quy Hoá (sông Hồng), Lại Linh, Phan Cụ theo đường sông Tuyên Quang (sông Lô), hai đạo cùng tiến. Cao cùng vợ con thắt cổ chết. Từ đó cả miền Thượng Nguyên Lộ (Thái Nguyên), Tam Đái Giang (Vĩnh Phúc) đều được dẹp yên.

Tháng 12 năm 1223, Trần Tự Khánh qua đời ở Phù Liệt, không rõ bao nhiêu tuổi. Quyền bính trong triều được giao cho anh trai ông Trần Thừa, người kế tục chức vị Thái úy và em họ ông là Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ. Về cơ bản, Trần Tự Khánh đã dẹp hầu hết các thế lực cát cứ chống triều đình, chỉ còn Nguyễn Nộn ở Bắc Giang và Đoàn Thượng ở Hồng châu chưa trừ bỏ được hẳn.

NHẬN ĐỊNH: Chính sự nhà Lý đổ nát, Cao Tông chơi bời, Huệ Tông nhu nhược, họ Lý không còn khả năng trị nước, quần hùng nổi dậy, nước Đại Việt có nguy cơ tái diễn loạn 12 sứ quân cuối thời nhà Ngô. Thậm chí quy mô, tầm vóc lực lượng và địa bàn trấn giữ của một số sứ quân lúc đó còn lớn hơn các sứ quân thời Ngô.

Vua Huệ Tông không muốn dùng ngoại thích, quay một vòng dựa vào các sứ quân khác nhau, nhưng rốt cục phải dựa vào Tự Khánh. Thực tế đã chứng minh rằng không sứ quân nào khi đó có tài năng ổn định đại cục bằng ông. Trần Tự Khánh đã chứng tỏ không chỉ là tướng quân tài ba mà còn có bản lĩnh chính trị khá già giặn.

Thoạt đầu, hành động quấy phá kinh thành của Tự Khánh, xét cho kỹ đó là động thái muốn "tranh hùng", không những thử vua Lý mà còn thử cả Tô Trung Từ. Ông kéo vào kinh mưu nắm lấy vua, định "mượn tiếng thiên tử để sai khiến chư hầu". Họ Lý không còn khả năng trị quốc, lẽ ra công đầu đánh Quách Bốc, tái lập ngôi vua và nắm chính trường thuộc về Tô Trung Từ (khi Trần Lý đã chết), nhưng Trung Từ lại chết vì ham sắc và Trần Tự Khánh đã nắm được thời cơ đó. Cái chết đáng hổ thẹn của Tô Trung Từ càng cho thấy Trung Từ không đủ phẩm chất để ngồi ở ngôi phụ chính "nắm vua dẹp loạn". Quy luật đào thải cho thấy sớm muộn ngôi đó cũng về tay Trần Tự Khánh.

Không đón được Huệ Tông, ông quay sang lập Huệ Văn vương. Đó chính là cách làm của Quách Bốc (lập Lý Thầm), Mạc Đăng Dung (lập Lê Cung Hoàng), tạo thế "đối trọng": Dựng vua mới khi vua cũ ngả sang sứ quân khác, dù vua dựng sau ở vị thế kém hơn. Đây là hoàn cảnh bất đắc dĩ phải làm như vậy. Tới khi vua Huệ Tông ngỏ ý quay về, Tự Khánh sẵn sàng đổi giận làm mừng, giữ phận tôi con mà đón rước. Như vậy, ông đã nhanh chóng tránh được vị thế bất đắc dĩ của Quách Bốc, Mạc Đăng Dung - nắm lấy danh chính để đánh dẹp. Nếu trong tay người tàn nhẫn, có lẽ Huệ Văn vương đã bị giết khi vua cũ Huệ Tông được rước về. Nhưng Tự Khánh không làm như vậy.

Từ khi nắm vua Lý trong tay, Trần Tự Khánh thắng các "chư hầu" như chẻ tre. Gần như một tay ông yên định thiên hạ chia năm xẻ bảy khi đó. Nếu không có sự phản trắc của tướng dưới quyền ông là Nguyễn Nộn, cơ bản ông đã thống nhất được giang sơn Đại Việt về một mối, vì Đoàn Thượng đã suy yếu nhiều so với thời kỳ đầu khó lòng dám một mình chống đối triều đình.

Các sử gia thống nhất rằng: Xét toàn cục trong thời loạn lạc cuối nhà Lý, công dẹp Quách Bốc và các hào trưởng địa phương khiến họ Trần trở thành người thay thế họ Lý xứng đáng hơn cả; trong đó có sự đóng góp lớn nhất của Trần Tự Khánh. Quyền lực chính quyền trung ương lại dần dần tập trung, củng cố dưới sự lãnh đạo của họ Trần. Tình hình yên ổn và vị thế khá vững vàng của họ Trần trong triều tạo điều kiện cho Trần Thủ Độ sau đó thực hiện việc chuyển ngôi chính thức từ họ Lý sang họ Trần. Chẳng những cha con Trần Thừa, Trần Cảnh mà ngay cả Trần Thủ Độ cũng được thừa hưởng cơ nghiệp của ông để lại. Nói về sự kiện thay ngôi nhà Lý, "bàn tay" của Trần Thủ Độ được nhắc tới nhiều hơn cả, nhưng công lao "dọn chướng ngại" cho Thủ Độ hành động thuộc về Trần Tự Khánh.

Nhà Trần sau này có nhiều võ tướng quý tộc có tên tuổi trong lịch sử Việt Nam như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật... Trần Tự Khánh chính là danh tướng đầu tiên của tông thất họ Trần.

THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘTrần Thủ Độ là người có công lập nên nhà Trần, lại là chú của vua và đứng đầu trăm quan, nhưng không ...
23/01/2022

THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ

Trần Thủ Độ là người có công lập nên nhà Trần, lại là chú của vua và đứng đầu trăm quan, nhưng không vì thế mà tự cho phép mình vượt qua phép nước.

Có lần, Linh Từ Quốc Mẫu, vợ ông, muốn xin chức câu đương, không thể ví như những câu đương khác. Vì vậy phải chặt một ngón chân để phân biệt.

Người ấy kêu van mãi, ông mới tha cho.

Một lần khác, Linh Từ Quốc Mẫu ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm, bị một người quân hiệu ngăn lại. Về nhà, bà khóc:

- Tôi là vợ thái sư mà bị kẻ dưới khinh nhờn.

Ông cho bắt người quân hiệu đến. Người này nghĩ là phải chết. Nhưng khi nghe anh ta kể rõ ngọn ngành, ông bảo:

-Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa.

Nói rồi, lấy vàng, lụa thưởng cho.

Trần Thủ Độ có công lớn, vua cũng phải nể. Có viên quan nhân lúc vào chầu vua, ứa nước mắt tâu:

- Bệ hạ còn trẻ mà thái sư chuyên quyền, không biết rồi xã tắc sẽ ra sao. Hạ thần lấy làm lo lắm.

Vua đem viên quan đến gặp Trần Thủ Độ và nói:

- Kẻ nào dám tâu xằng với trẫm là Thượng phụ chuyên quyền, nguy cho xã tắc.

Trần Thủ Độ trầm ngâm suy nghĩ rồi tâu:

- Quả có chuyện như vậy. Xin bệ hạ quở trách thần và ban thưởng cho người nói thật.

Theo ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ.

NHẬN ĐỊNH: Trần Thủ Độ là vị quan to đầu triều mà rất chí công và cương trực. Thái sư rất coi trọng phép nước, đặt phép nước lên trên tình riêng. Cách ứng xử với vua cũng rất đàng hoàng và trung thực. Có lẽ ông là người đầu tiên ở nước ta kiên quyết chống lại chuyện chạy chức chạy quyền của bọn hám danh trục lợi trong xã hội.
Tất cả những điều trên giải thích vì sao các vua nhà Trần đã cung kính tôn vinh ông là Thượng phụ.

TỨ DƯƠNG HẦU PHẠM TỬ NGHI - DANH TƯỚNG VIỆT TỪNG CHIẾM CỨ LƯỠNG QUẢNG1. Lời mở đầuHải Phòng không chỉ được biết đến là m...
09/12/2021

TỨ DƯƠNG HẦU PHẠM TỬ NGHI - DANH TƯỚNG VIỆT TỪNG CHIẾM CỨ LƯỠNG QUẢNG

1. Lời mở đầu
Hải Phòng không chỉ được biết đến là một thành phố cảng năng động, mà còn là một trong những thành phố có bề dày văn hóa - lịch sử lâu năm nhất cả nước. Để làm nên một Hải Phòng phát triển bền vững như ngày nay, người Hải Phòng luôn biết ơn sâu sắc và ghi nhớ công lao của các bậc danh tướng hiền tài đã có công bảo vệ, giữ gìn mảnh đất Hải Phòng suốt chiều dài lịch sử. Trong đó, chúng ta không thể không nhắc tới vị danh tướng dưới thời nhà Mạc, người con của thành phố Hải Phòng - Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi.

2. Thân thế và sự nghiệp
Phạm Tử Nghi sinh ngày 2 tháng 2 năm Hồng Thuận (1509), mất ngày 14 tháng 9 năm Lê Quang Hưng (1551). Ông tên húy là Thành, tên chữ là Tử Nghi. Ông nguyên là người Vĩnh Niệm, tổng An Dương, huyện An Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay thuộc địa bàn giữa hai phường Nghĩa Xá và Vĩnh Niệm - quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

Từ nhỏ ông đã thông minh, ham học hỏi và đặc biệt là có sức vóc hơn người. Con người Phạm Tử Nghi hội tụ đủ những phẩm chất, những điểm ưu việt để sau này được triều đình trọng dụng. Vào thời nhà Mạc, Phạm Tử Nghi đã trở thành một tướng cấp cao với tước Tứ Dương hầu.

Theo các tài liệu lịch sử, năm 1546, vua Mạc là Mạc Phúc Hải băng hà, con trưởng là Mạc Phúc Nguyên lên nối ngôi. Vì vua còn nhỏ tuổi, Phạm Tử Nghi có chủ trương lập Mạc Chính Trung là con thứ của Mạc Đăng Dung nối ngôi nhưng các đại thần nhà Mạc không nghe. Phạm Tử Nghi bèn cùng với Mạc Văn Minh là cháu Mạc Đăng Dung đưa Mạc Chính Trung về Hoa Dương, huyện Ngự Thiên (nay thuộc Thái Bình) lập triều đình riêng. Quân nhà Mạc đã nhiều lần tấn công nhưng đều bị Phạm Tử Nghi đánh bại.

Theo Văn hóa Yên Hưng - Di tích, về sau Phạm Tử Nghi đưa Mạc Chính Trung ra chiếm cứ vùng Yên Quảng (Quảng Ninh ngày nay) và đánh cả sang vùng Quảng Đông, Quảng Tây của nhà Minh. Trong bản ngọc phả Nam Hải đại vương sao năm Tự Đức 22 (năm 1869), soạn giả đã mô tả những hoạt động của Tứ dương hầu Phạm Tử Nghi như sau:… Chiếm cứ Lưỡng Quảng rồi tiến hẳn đến Nam Kinh. Anh hào các nước đều phải bó tay, một trận toàn thắng lại giơ gươm chém cây cột đồng Mã Viện dựng lên thuở trước đến nay vẫn còn vết kiếm”.

Với tinh thần, chí khí của người anh hùng yêu nước, hành động của tướng quân Phạm Tử Nghi trên đất Minh đã làm đối phương phải nể phục và khiếp sợ, dám thẳng tay chém vào cây cột đồng Mã Viện - biểu tượng ách đô hộ của lũ giặc phương Bắc với người phương Nam, đồng thời còn làm cho người Minh phải hoang mang sợ hãi. Hơn hết những sự việc xảy ra này đều được xác nhận trong ghi chép của cả hai nước. Đây là minh chứng hùng hồn để thấy rằng nhân vật này tuy chỉ xuất hiện trong một thời điểm, một giai đoạn biến loạn của lịch sử nhưng đã để lại những dấu ấn nhất định, những oai danh không thể phủ nhận.

Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi là một danh tướng tài ba, hết lòng vì dân vì nước, đặc biệt với mảnh đất quê hương Vĩnh Niệm, Ngài cũng ghi dấu những công đức lớn lao.

Về cái chết của Phạm Tử Nghi, theo Ngọc phả Nam Hải Đại vương, trong khi Tử Nghi đang thắng trận, nhà Minh dùng kế sai người bắt cóc mẹ ông và ra điều kiện cho ông phải đầu hàng. Tử Nghi bèn xin giảng hòa để tạm bãi binh nhằm cứu mẹ. Nhưng khi ông đến hội ước giảng hòa thì người Minh liền bắt ông. Sau đó quân Minh chém ông, còn xác thì đốt thành tro, rắc cho gió thổi bay. Ngọc phả cũng chép tình tiết quanh vùng Tử Nghi bị chém, phát sinh ôn dịch, người và súc vật bị chết nên nhà Minh phải hậu táng cho ông. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, ông bị giặc ám hại vào năm 1551.

Theo Ngọc phả Nam Hải đại vương, ông mất ngày 14 tháng 9 âm lịch niên hiệu Diên Thành đời Mạc Mậu Hợp (1578-1585). Dân làng quê hương ông vẫn lấy ngày 14 tháng 9 âm lịch là ngày giỗ Phạm Tử Nghi.

Do công tích của Phạm Tử Nghi đối với lịch sử nên ông được các triều đại phong kiến Lê, Nguyễn sắc phong Thượng đẳng thần. Tại Hải Phòng, ước có khoảng hơn 20 nơi thờ Phạm Tử Nghi làm thành hoàng hoặc phúc thần. Người dân suy tôn ông là Đức Thánh Niệm.

3. Những ghi chép về Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi

Vị tướng quân tài giỏi có sức khỏe phi thường này đã có công đắp con đường mang tên Thiên Lôi tại quê hương ông, đặc biệt hơn con đường đó còn là con đê ngăn nước mặn xâm nhập vào nội đô. Đê dài khoảng 3 dặm. Sở dĩ con đường ông đắp mang tên Thiên Lôi vì tương truyền rằng khi tập võ, ông đã dùng gậy, thét lên một tiếng vang trời và quật nát những đống đất đắp hai bên đường. Người dân ở nơi ông sống lúc ấy ví ông như tướng Thiên Lôi trên trời được phái xuống nên gọi đường ấy là đường Thiên Lôi. Con đê này ngày nay đã trở thành một con đường lớn của thành phố Hải Phòng và vẫn giữ nguyên tên Thiên Lôi vốn có của nó.

Nói đến sức mạnh phi thường của danh tướng Phạm Tử Nghi, người dân vùng đất Niệm vẫn còn truyền tụng nhau một số câu chuyện khác.

Có lần làng giao cho Phạm Tử Nghi mang tiền lên Kinh đô nộp thuế. Xong xuôi, ông dạo chơi qua bến cửa Đông, thấy quân lính đang chung sức kéo một cây gỗ lim. Ông tủm tỉm cười và nói nhỏ: “Những đồ vá áo túi cơm ấy thì sao có thể làm tròn được trách nhiệm nặng nề!” Có người nghe thấy mách với quan khâm sai. Sau quan lại vào tâu với Vua để bắt tội vô lễ. Vua truyền rằng, nếu một mình làm được sẽ trọng thưởng.

Phạm Tử Nghi vâng lệnh đến bên bờ sông, vác thốc cây gỗ đó lên, đến trước mặt Vua mà ném xuống. Vua liền ban thưởng. Sau đấy văn võ bá quan còn chưa phục, Vua lại tiếp tục giao cho ông trị 3 con voi dữ ở cánh đồng Đồng Nhân, bảo vệ sự yên bình cho xóm làng. Phạm Tử Nghi xin phép luyện tập võ nghệ trong 3 tháng rồi đi đánh voi… Một trận đánh lớn đã diễn ra tưởng như quang cảnh trời sa đất thụt. Phút chốc, cả 3 con voi, con thì chết, con thì què.

Không chỉ có những truyền thuyết quanh thân thế sự nghiệp, tướng quân Phạm Tử Nghi còn có những truyền tích xung quanh cái chết của mình. Trong khi Tử Nghi đang thắng trận, nhà Minh dùng kế sai người bắt cóc mẹ ông và ra điều kiện cho ông phải đầu hàng. Tử Nghi bèn xin giảng hòa để tạm bãi binh nhằm cứu mẹ. Nhưng khi ông đến hội ước giảng hòa thì người Minh liền bắt ông. Khi biết mắc phải mưu gian của giặc, trước khi ngã ngựa, ông còn lớn tiếng mắng nhiếc bọn phản bội lời ước: “Chúng bay là lũ tiểu nhân, lòng chó má, tao thề sống chưa báo thù cho nước thì thác sẽ rửa hận cho nhà”. Sau đó quân Minh cho đao phủ chém đầu ông, đem bêu ở chợ, còn xác thì đốt thành tro, rắc cho gió thổi bay. Ngay hôm ấy trên đất nhà Minh, dân mắc dịch lớn, súc vật chết hại rất nhiều, cả phương Bắc đều xáo động.

Trước oai linh của ông, nhà Minh phải hạ lệnh làm một hòm đá trong quan ngoài quách, đặt thủ cấp của ông vào trong rồi làm lễ công hầu mà tế đưa. Đặt hòm đá trên chiếc bè nhỏ, trên che một chiếc lọng xanh thả trôi theo dòng nước về phương Nam. Quách đá trôi đến Đầm Hồng thì có ông chài được Thần báo mộng, đem rước lên thuyền, thuyền không cần chèo, cứ thế trôi đi đến bến sông Niệm thì bè dừng lại. Sấm dậy, gió nổi ầm ầm trong làng từ quan viên đến trai tráng tề chỉnh ra rước hòm đá về Lăng Miếu Đôn Nghĩa hiện nay làm lễ an táng. Dân làng quê hương lập lăng, miếu, đền tôn thờ vị tướng mà khi còn sống thì làm kẻ thù phải kính nể, đến khi thác mà anh linh vẫn còn gây được tai họa khiến quân giặc phải khiếp sợ. Ngọc phả Phạm Tử Nghi còn cho biết, phàm là 2 bên bến bờ sông thuộc cả 2 nước nơi mà bè trôi qua đều có đền thờ ông.

Tuy trải qua nhiều thay đổi, nhưng người dân vùng đất Niệm xưa, người dân phường Vĩnh Niệm nay vẫn lưu giữ truyền thống thờ cúng, tổ chức lễ hội để tưởng nhớ đến Đức Thánh Niệm Phạm Tử Nghi.

4. Hệ thống di tích thờ danh tướng Phạm Tử Nghi tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Lê Chân là một quận nội thành của Hải Phòng với vị trí tiếp giáp quận Ngô Quyền và một phần quận Dương Kinh ở phía Đông; quận Kiến An, huyện An Hải ở phía Tây; quận Dương Kinh ở phía Nam và quận Hồng Bàng ở phía Bắc. Tại quận Lê Chân có 4 di tích tạo nên một quần thể di tích thờ danh tướng Phạm Tử Nghi đáng tự hào của người dân Hải Phòng. Quần thể di tích đó bao gồm: Di tích lịch sử cấp quốc gia Lăng miếu Đôn Nghĩa thuộc phường Vĩnh Niệm; Từ chính Nghĩa Xá của phường Nghĩa Xá; Miếu An Dương thuộc phường Niệm Nghĩa; Và di tích lịch sử cấp quốc gia Đình Niệm Nghĩa thuộc phường Vĩnh Niệm.

Người dân quanh khu Vĩnh Niệm ngày nay vẫn còn truyền tai nhau câu ca dao nói về việc 3 lăng Đôn, Niệm, Nghĩa Xá chia nhau phụng thờ Đức Thánh Niệm:

“Bể dâu thay đổi cuộc đời
Làng xưa Vĩnh Niệm sau dời làm ba
Làng Nghĩa Xã, đấy là nhà
Dựng ngôi đền chính, một tòa khang trang
Làng Đôn, lăng, miếu, đèn hương.
Còn làng Niệm Nghĩa phụ vương mộ phần.
Ba làng vẫn một tinh thần
Ấm no, hạnh phúc nhờ ân đức Người”

Đầu tiên là Lăng miếu Đôn Nghĩa

Lăng miếu Đôn Nghĩa tọa lạc tại đường Phạm Tử Nghi, phường Vĩnh Niệm. Đây là nơi chôn cất một phần thi thể của danh tướng Phạm Tử Nghi.

Khu di tích Lăng miếu Đôn Nghĩa đã trở thành một chỉnh thể công trình kiến trúc văn hóa, gồm bái đường, hậu cung, khu lăng mộ và khu vực cảnh quan thiên nhiên với vườn hoa chậu cảnh. Đặc biệt, số lượng cây cổ thụ gắn liền với khu vực Lăng miếu như đa, si, đại, góp phần làm tăng thêm vẻ tôn nghiêm, u tịnh của khu di tích. Hiện nay, Lăng Miếu Đôn Nghĩa còn bảo lưu được nhiều di vật cổ là đồ tế tự bằng gỗ sơn son thếp vàng rực rỡ, mang giá trị mỹ thuật thời Nguyễn cuối thế kỷ XIX, như: cửa võng, kiệu bát cống, lonh đình, bát biểu, một số di vật là đồ đồng, đồ sứ như bộ tam sự, rùa, hạc, bát hương đồng và men sứ…

Toàn bộ khu Lăng miếu nằm trong hệ thống tường bao quanh có cổng xây cất theo lối chồng diềm 8 mái, bên trong cổng đặt bức bình phong xây theo lối cuốn thư soi bóng xuống hồ nước trong xanh phía sau kiến trúc tòa miếu thờ là khu lăng mộ Phạm Tử Nghi.

Hiện khu di tích Lăng miếu Đôn Nghĩa đã được tu tạo. Vào dịp kỷ niệm ngày sinh 2-2 và ngày hóa 14-9 âm lịch, lễ hội diễn ra đơn giản và có nhiều trò bách hý dân gian, thu hút khách thập phương đến với tấm lòng thành nơi tín ngưỡng tôn giáo của địa phương. Lăng miếu Đôn Nghĩa được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa năm 2001.

Thứ 2 là Từ chính Nghĩa Xá
Tọa lạc trên đường Thiên lôi - con đường đã được chính ông đắp lên khi sinh thời.

Nhân dân địa phương được truyền ngôn lại rằng: Từ chính Nghĩa Xá được xây dựng trên chính mảnh đất của gia đình tướng quân Phạm Tử Nghi. Trải qua bao biến thiên của lịch sử quê hương đất nước, từ chính đã bao lần thay dạng đổi hình để cuối cùng định vị với dáng vẻ hiện tại, một thực thể kiến trúc hiện hữu của nghệ thuật dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nơi đây được coi là ngôi đền tình nghĩa của nhiều thế hệ cư dân quê hương Phạm Tử Nghi và ông được tôn vinh là Đức Thánh Niệm. Tên tuổi ông còn in đậm, thấm sâu trong lòng nhân dân, tương truyền ông rất linh ứng, bởi thế Từ chính Nghĩa Xá thờ ông được coi là một trong tứ linh từ của An Dương xưa.

Thứ 3 là Miếu An Dương

Miếu tọa lạc trên đường Trần Nguyễn Hãn, phường Niệm Nghĩa. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao sự biến đổi của thiên nhiên, nhưng ngôi miếu cổ vẫn giữ được nguyên vẹn cảnh quan kiến trúc.

Miếu An Dương gồm 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung, kết cấu hình chuôi vồ. Bên trong miếu còn lưu giữ rất nhiều đồ tế khí, hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng với những đường nét chạm trổ khéo léo và tinh xảo, thể hiện được tài điêu khắc của các nghệ nhân xưa.

Ngoài giá trị của một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ mang đậm bản sắc dân tộc, miếu An Dương còn là một di tích lịch sử, nơi đây là địa điểm bí mật của những chiến sĩ cách mạng, đồng thời cũng ghi lại nhiều tội ác của kẻ thù đối với những người yêu nước và các chiến sĩ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược.

Hàng năm, vào ngày sinh (2 tháng 2 âm lịch), ngày hóa (14 tháng 9 âm lịch) của Phạm Tử Nghi và dịp tết Nguyên Đán, nhân dân quanh vùng vẫn đến miếu dâng hương, để tưởng nhớ công lao và cầu mong được Ngài che chở trong cuộc sống.

Và thứ 4 là Đình Niệm Nghĩa

Đình tọa lạc tại đường Nguyễn Sơn Hà thuộc phường Niệm nghĩa. Đình Niệm Nghĩa hiện là một trong những công trình kiến trúc nghệ thuật còn khá nguyên vẹn.

Những người xây dựng Đình đã rất khéo léo trong việc lựa chọn địa điểm dựng Đình, nó không chỉ thỏa mãn nhu cầu địa linh và hướng đình, mà còn thuận lợi về giao thông thủy bộ để tập kết nguyên vật liệu xây dựng công trình thế kỷ của nơi này. Đình Niệm Nghĩa hiện nay mang phong cách nghệ thuật kiến trúc đình làng Việt Nam thế kỷ XIX. Đình được trùng tu xây dựng năm Tự Đức thứ 4 (1851).

Đình Niệm Nghĩa cổ hoàn toàn được làm bằng gỗ lim, bố cục hình chữ Công, gồm 5 gian tiền đường, hai gian nhà cầu (ống muống) và một gian hai dĩ hậu cung.

Cùng với kiến trúc nghệ thuật cổ, mái đình Niệm Nghĩa còn là nơi chở che, bảo tồn một số di vật quý có giá trị về lịch sử, nghệ thuật và văn hóa như nhang án tiền, long đình, kiệu bát cống, long ngai, tượng thánh, cuốn thư, hoành phi, câu đối,…

Với những giá trị về kiến trúc, năm 1996, đình Niệm Nghĩa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.

*Thạc sĩ Đào Thị Bích Nguyệt (Đại học Hải Phòng)
*Tài liệu tham khảo:
- Ngô Sỹ Liên (2017), Đại Việt Sử ký Toàn thư, NXB Văn học.
- Lê Hồng Sơn (2008), Văn hóa Yên Hưng - Di tích văn bia, câu đối, đại tự, NXB Chính trị Quốc gia.
- Cổng Thông tin thành phố Hải Phòng.
*Hình ảnh: Tượng thờ Tứ Dương hầu

Address

Hoi An

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Sử Sách posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category