Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy UBND tỉnh Lai Châu

Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy UBND tỉnh Lai Châu Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy UBND tỉnh Lai Châu, Political organisation, Lai Châu.

- Trang thông tin chính thống của Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy UBND tỉnh Lai Châu
- Tuyên truyền thông tin tích cực, công tác xây dựng Đảng
- Chia sẻ, lan tỏa giá trị tốt đẹp

Vạch trần những bịa đặt vô căn cứ, có chủ đích về tín ngưỡng, tôn giáoNhiều năm qua, lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo luôn ...
07/08/2026

Vạch trần những bịa đặt vô căn cứ, có chủ đích về tín ngưỡng, tôn giáo
Nhiều năm qua, lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo luôn là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng để công kích, chống phá nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ. Dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, chúng luôn coi đây là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong để kích động, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta. Lợi dụng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 mới được ban hành (có hiệu lực từ ngày 1/1/2027), các đối tượng phản động, cực đoan, cơ hội chính trị lập tức ra sức vu cáo, đẩy mạnh tuyên truyền những luận điệu sai sự thật nhằm xuyên tạc, chống phá chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực này, đòi hỏi cần được lên tiếng nhận diện kịp thời và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn.
Trên trang fanpage Facebook “BPSOS - Đề án Dân quyền Việt Nam”- trang thông tin của tổ chức liên quan đến khủng bố “Ủy ban cứu người vượt biển” (BPSOS) thời gian gần đây gia tăng các bài viết công kích Luật Tín ngưỡng, tôn giáo mới, với các luận điệu: Luật ban hành nhằm hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; cho phép Nhà nước can thiệp vào nội bộ các tổ chức tôn giáo; tăng cường kiểm soát, gây khó khăn cho các hoạt động tôn giáo, “bóp chết” quyền tự do tôn giáo trên không gian mạng...
Các luận điệu trên hoàn toàn là sự bịa đặt vô căn cứ bởi trên thực tế, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (Luật) không những không hạn chế mà còn tiếp tục thể chế hóa cụ thể hơn Điều 24, Hiến pháp 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 4 “Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” quy định rõ ràng và cụ thể: Tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng dân cư, đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân; khuyến khích và tạo điều kiện phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc...
Đảng và Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Điều 7 của Luật nghiêm cấm “mọi hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo”. Hoàn toàn không có việc Luật ban hành để hạn chế hay cản trở quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân như các thế lực thù địch cố tình rêu rao.
Với luận điệu cho rằng Nhà nước Việt Nam can thiệp vào nội bộ của các tổ chức tôn giáo, nhất là vin vào quy định tại Khoản 3, Điều 33 “Cách chức, bãi nhiệm, đình chỉ chức sắc, chức việc” các đối tượng lập tức quy kết đây là sự lấn tới rất nguy hiểm của chính quyền Việt Nam đối với hoạt động của một tổ chức tôn giáo. Đồng thời bịa đặt rằng chính quyền Việt Nam sẽ trở thành đối tượng đe dọa nghiêm trọng đối với các chức việc của tổ chức tôn giáo. Thực chất đây là sự cắt ghép có chủ đích nhằm xuyên tạc quy định trong Luật.
Theo luật định, Nhà nước không đình chỉ, can thiệp vào hoạt động của các tổ chức tôn giáo hợp pháp hay hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, mà chỉ áp dụng biện pháp đình chỉ đối với những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật. Quy định này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc quản lý nhà nước về tôn giáo ở các quốc gia pháp quyền hiện đại, đồng thời bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.
Trên thực tế, hầu hết các quốc gia đều trao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyền áp dụng các biện pháp đình chỉ hoặc xử lý đối với các tổ chức, cá nhân lợi dụng hoạt động tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, quyền con người hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam và phần lớn các quốc gia trên thế giới tham gia cũng quy định rõ “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo” nhưng “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.
Do đó, luận điệu cho rằng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 cho phép Nhà nước tùy tiện can thiệp vào nội bộ của các tổ chức tôn giáo là sự xuyên tạc có chủ đích, cố tình đánh đồng giữa việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý xã hội bằng pháp luật để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ.
Với luận điệu cho rằng, luật tăng cường kiểm soát, gây khó khăn cho các hoạt động tôn giáo, “bóp chết” quyền tự do tôn giáo trên không gian mạng, thực tế cho thấy ngược lại. Luật hướng mạnh về đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường phân quyền, phân cấp triệt để gắn với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; chuyển tư duy từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”… trên cơ sở quán triệt tư duy lập pháp: Luật chỉ quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc. Cách làm này nhằm minh bạch hóa, cắt, giảm thủ tục, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước nâng cao tính công khai và trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền, từ đó phục vụ tốt hơn và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức tôn giáo và người dân sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo đúng pháp luật, không có chuyện tăng cường kiểm soát hay gây bất kỳ khó khăn nào cho các hoạt động hợp pháp.
Điểm mới nổi bật trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 là lần đầu tiên hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được đưa vào phạm vi điều chỉnh trực tiếp của văn bản luật. Song đây không phải là “bóp chết quyền tự do tôn giáo trên không gian mạng” như các thế lực thù địch rêu rao nhằm hướng lái dư luận. Các quy định này được ban hành nhằm kiểm tra, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn, kịp thời xử lý các hành vi lợi dụng công nghệ, mạng xã hội để vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, tạo hành lang pháp lý an toàn cho các tổ chức và cá nhân tham gia các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên môi trường số. Điều này phù hợp với xu hướng quản trị quốc gia hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số và không làm thay đổi bản chất của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.
Những phân tích trên đã vạch trần bịa đặt vô căn cứ và có chủ đích của các thế lực thù địch, phản động nhằm phủ nhận chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; kích động tâm lý hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị-xã hội. Do đó phải kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh, phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái này; đồng thời cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 nhất là những điểm mới, bổ sung, sửa đổi nhằm nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Tiến sĩ HOÀNG THU TRANG
Báo Nhân dân
Cán bộ, chiến sĩ Công an phường Tô Châu, tỉnh An Giang, trao quà tặng đại diện chùa ở địa phương nhân dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây. (Ảnh: VĂN HẬU)

10 NGHỊ QUYẾT TRỤ CỘT TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC
07/08/2026

10 NGHỊ QUYẾT TRỤ CỘT TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

Quyền con người ở Việt Nam - Vàng thật không sợ lửa - Bài 3: Quyền văn hóa ngày càng được đảm bảo tốt hơnTác giả: NHÓM P...
07/08/2026

Quyền con người ở Việt Nam - Vàng thật không sợ lửa - Bài 3: Quyền văn hóa ngày càng được đảm bảo tốt hơn
Tác giả: NHÓM PHÓNG VIÊN
Quyền văn hóa là một thành tố thiết yếu trong hệ thống quyền con người, được nhìn nhận là không thể thiếu đối với sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân và cộng đồng. Quan điểm nhất quán, hành động quyết liệt của Đảng và Nhà nước ta là phải bảo đảm đầy đủ quyền văn hóa của người dân.
Tuy nhiên, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, phản động tìm mọi cách chống phá trên mặt trận văn hóa-tư tưởng với nhiều hình thức ngày càng tinh vi; ra sức lợi dụng sản phẩm văn hóa, nghệ thuật như một “vũ khí” từng bước thực hiện âm mưu tác động và đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Phá hoại văn hóa - Mục tiêu lớn của các thế lực thù địch
Văn hóa-tư tưởng luôn là trận địa khốc liệt, có lúc nóng bỏng, có khi thầm lặng, thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách chống phá. Mục đích không gì khác là tìm cách làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, hòng thực hiện cho bằng được chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bất ổn chính trị, xã hội.
Thủ đoạn của chúng rất đa dạng: Sáng tạo, truyền bá các sản phẩm văn hóa chứa nội dung tôn vinh, giới thiệu học thuyết chính trị đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin, hạ thấp giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; sử dụng sản phẩm văn hóa để bôi đen hiện thực xã hội, nhằm kích động nhân dân; đưa các giá trị văn hóa ngoại lai để thực hiện chiến lược “xâm lăng văn hóa”... Và đặc biệt, là thường xuyên đả kích cách thức quản lý văn hóa của chúng ta để xuyên tạc Việt Nam không bảo đảm quyền tự do ngôn luận và tự do sáng tác nói riêng; cũng như các quyền văn hóa nói chung.
Tự do ngôn luận và tự do sáng tác là những vấn đề vừa có giá trị phổ quát, vừa rất nhạy cảm về chính trị, pháp lý và văn hóa. Vì vậy, đây thường là lĩnh vực được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lựa chọn để xuyên tạc, tuyệt đối hóa hoặc tách khỏi bối cảnh lịch sử, thể chế và điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Một thủ pháp khá phổ biến của các thế lực thù địch là đồng nhất mọi hoạt động quản lý nội dung với “kiểm duyệt”, đồng nhất việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật với đàn áp tự do sáng tạo. Từ một trường hợp cụ thể, họ có thể khái quát thành bản chất của cả hệ thống; từ một quyết định hành chính còn có thể tranh luận, họ quy kết rằng Việt Nam không tôn trọng quyền con người. Trong môi trường mạng, những cách diễn giải đơn giản, cực đoan như vậy thường dễ lan truyền hơn những phân tích pháp lý đầy đủ.
PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: Về mặt học thuật và pháp lý, chúng ta cũng cần diễn đạt vấn đề thật chính xác, không nên nói một cách tuyệt đối rằng Việt Nam hoàn toàn không có bất kỳ cơ chế kiểm soát nội dung nào. Luật Báo chí quy định rõ báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng. Nhưng trong điện ảnh, xuất bản và một số lĩnh vực văn hóa khác vẫn có những cơ chế như biên tập, đăng ký xuất bản, phân loại phim, cấp giấy phép phổ biến, lưu chiểu, hậu kiểm và xử lý vi phạm.
“Điều cần phân biệt là kiểm duyệt tư tưởng một cách tùy tiện với quản lý nội dung trên cơ sở pháp luật. Phân loại phim theo độ tuổi, bảo vệ trẻ em trước nội dung độc hại, ngăn chặn kích động bạo lực, thù hận, xâm phạm danh dự, nhân phẩm hay quyền riêng tư không phải là hiện tượng riêng của Việt Nam. Đó là trách nhiệm bình thường của mọi nhà nước trong việc điều hòa quyền tự do của người này với quyền và sự an toàn của người khác”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.
Hiện nay, tại nhiều quốc gia trên thế giới, các dịch vụ truyền thông nghe nhìn không được chứa nội dung kích động bạo lực hoặc thù hận, đồng thời phải có cơ chế bảo vệ trẻ vị thành niên và bảo đảm khả năng tiếp cận đối với người khuyết tật. Công ước về quyền trẻ em cũng yêu cầu các quốc gia vừa tạo điều kiện để trẻ tiếp cận thông tin đa dạng, vừa xây dựng hướng dẫn thích hợp nhằm bảo vệ trẻ trước những thông tin, tài liệu có hại.
Tóm lại, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc về quyền văn hóa ở Việt Nam. Nhìn nhận, đánh giá lĩnh vực chứa đựng nhiều cảm tính là văn hóa, càng cần phải vận dụng phương pháp luận đúng đắn của Chủ nghĩa Mác-Lênin: Khách quan, toàn diện, lịch sử-cụ thể và phát triển. Thiếu đi sự tỉnh táo trong phân tích, nhận định, vội vàng a dua theo một bộ phận dư luận xã hội thì rất dễ bị rơi vào bẫy tinh vi của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị giăng sẵn.
Quyền văn hóa ngày càng được bảo đảm
Những năm gần đây, nhận thức và thực tiễn bảo đảm quyền con người trong văn hóa ở Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Quyền văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là quyền được “xem”, được “nghe” mà còn là quyền tham gia, quyền sáng tạo, quyền bảo vệ bản sắc và quyền được hưởng lợi từ hoạt động sáng tạo.
Thành tựu đầu tiên trong lĩnh vực này, theo PGS, TS Vũ Thị Phương Hậu, Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đó là: Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện hơn theo hướng đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa trong tình hình mới. Nhiều luật chuyên ngành về văn hóa, nghệ thuật, di sản liên tiếp ra đời, giúp lấp đầy khoảng trống pháp lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nhờ có hành lang pháp lý, chương trình, hoạt động văn hóa đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đời sống văn hóa của người dân phong phú hơn. Nhiều sản phẩm văn hóa và dịch vụ văn hóa được sáng tạo, sản xuất, phổ biến, lưu thông trên thị trường, đáp ứng thị hiếu đa dạng của công chúng. Di sản văn hóa được bảo tồn và phát huy. Công nghiệp văn hóa được quan tâm phát triển, bước đầu có những đóng góp đối với tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP). Hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc, góp phần phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Đặc biệt, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa (2025-2035) đã được phê duyệt với tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2025-2030 tối thiểu là 122.250 tỷ đồng. Chương trình đã gỡ khó cho vấn đề thiếu nguồn vốn để đáp ứng tốt hơn các quyền văn hóa. Không gian sáng tạo và khả năng tiếp cận sản phẩm văn hóa được mở rộng đáng kể.
Các kênh phát hành trực tuyến, thương mại điện tử và mạng xã hội đang giúp sách đến với công chúng nhanh hơn, rộng hơn. Không chỉ những người kinh doanh sản phẩm văn hóa, các văn nghệ sĩ là người Việt Nam hay người nước ngoài đều khẳng định môi trường sáng tạo ở Việt Nam rất cởi mở.
Ca sĩ, diễn viên, người mẫu Nga Sonya Firsova cho biết: “Đối với tôi, hoàn toàn ổn nếu tuân theo một số chuẩn mực văn hóa. Sau cùng, nếu bạn sắp đến một đất nước mới, bạn nên tìm hiểu về văn hóa và truyền thống của địa phương. Đó là sự tôn trọng và tôi nghĩ nhiều người nước ngoài đã làm điều đó, “nhập gia tùy tục” mà! Tôi đã ở Việt Nam để hoạt động nghệ thuật. Tôi không thấy khả năng thể hiện nghệ thuật của tôi bị hạn chế”.
Các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa mà phóng viên Báo Quân đội nhân dân trò chuyện đều nhận định: Những quy định cấm trong hoạt động văn hóa không mâu thuẫn với quyền tự do sáng tác và quảng bá. Quyền tự do sáng tạo rất quan trọng, nhưng cũng như hầu hết các quyền con người khác, đó không phải là một quyền tuyệt đối, không giới hạn.
Việc một số luật như Luật Điện ảnh, Luật Xuất bản của Việt Nam cấm nội dung kích động chiến tranh xâm lược, bạo lực, hận thù dân tộc; xâm phạm danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư; vi phạm quyền trẻ em; xâm phạm chủ quyền quốc gia hay phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là có cơ sở từ yêu cầu bảo vệ lợi ích công cộng và quyền của những chủ thể khác. Luật Xuất bản quy định cụ thể các nội dung, hành vi bị nghiêm cấm; đồng thời cũng quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý khi ban hành quyết định sai, gây thiệt hại. Luật Điện ảnh còn bổ sung yêu cầu bảo vệ trẻ em, người chưa thành niên, bảo đảm bình đẳng giới và xử lý việc phổ biến phim không thực hiện phân loại theo quy định.
PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: Một điểm rất đáng chú ý là pháp luật về điện ảnh không cấm việc tác phẩm mô tả cái ác, chiến tranh hay bạo lực một cách máy móc. Luật phân biệt giữa việc kích động, cổ xúy hành vi tội ác với việc thể hiện những nội dung đó nhằm phê phán, tố cáo, lên án tội ác, đề cao chính nghĩa và tôn vinh các giá trị nhân văn. Đây chính là không gian cần thiết cho sáng tạo nghệ thuật. Nếu cứ có cảnh bạo lực là cấm, có nhân vật tiêu cực là cấm, có cách nhìn khác biệt là cấm thì nghệ thuật sẽ mất khả năng phản ánh đời sống và cảnh tỉnh xã hội.
Dẫu vậy, để thúc đẩy bảo đảm quyền văn hóa hơn nữa, vẫn có ý kiến cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hoạt động văn hóa sang tư duy kiến tạo điều kiện để mọi người thực hiện quyền này. Nhà nước không chỉ ngăn chặn cái sai, cái xấu mà còn phải chủ động tạo không gian, cơ hội và nguồn lực cho cái đúng, cái đẹp, cái mới được hình thành. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng rõ ràng, thống nhất và có khả năng dự báo. Các khái niệm liên quan đến nội dung bị cấm phải được hướng dẫn bằng tiêu chí cụ thể, hạn chế cách hiểu quá rộng hoặc áp dụng thiếu thống nhất. Theo PGS, TS Vũ Thị Phương Hậu: Quốc hội cần ban hành một đạo luật riêng liên quan đến quyền văn hóa nhằm cụ thể hóa đầy đủ các cam kết quốc tế và quy định hiến pháp về quyền văn hóa. Đạo luật này sẽ xác định rõ nội hàm các quyền văn hóa của công dân (quyền tiếp cận di sản, tham gia sáng tạo, hưởng thụ văn hóa...), cũng như trách nhiệm của Nhà nước và các chủ thể liên quan trong bảo đảm các quyền đó. Việc ban hành Luật Quyền văn hóa sẽ tạo nên một khung pháp lý thống nhất, minh bạch về quyền văn hóa, khắc phục tình trạng phân tán hiện nay.
(còn nữa)
Báo QĐND

06/08/2026

📱 Có bao giờ bạn lướt mạng và phải thốt lên: "Ủa, thật hay giả vậy?"
Giờ đây, AI có thể tạo ra hình ảnh, video, giọng nói... giống thật đến mức rất khó nhận ra. Chỉ một lần vội tin hay bấm chia sẻ cũng có thể khiến tin giả lan đi nhanh hơn.
Vậy nên, trước mỗi thông tin xuất hiện trên mạng, mình hãy dành thêm vài giây để kiểm chứng.
Cùng chiến dịch TinAI trang bị những kiến thức và kỹ năng nhận diện tin giả, tin xấu độc do AI tạo ra, để mỗi người dùng mạng đều trở thành một người tiếp nhận thông tin tỉnh táo và có trách nhiệm.
Đừng vội tin. Đừng vội chia sẻ. Hãy kiểm chứng trước đã. 🇻🇳

06/08/2026

Khoảnh khắc lịch sử không thể nào quên
🇻🇳🇻🇳🇻🇳

Quyền con người ở Việt Nam - Vàng thật không sợ lửa - Bài 2: Việt Nam thực thi các chuẩn mực quốc tế về quyền con ngườiT...
06/08/2026

Quyền con người ở Việt Nam - Vàng thật không sợ lửa - Bài 2: Việt Nam thực thi các chuẩn mực quốc tế về quyền con người
Tác giả: NHÓM PHÓNG VIÊN
Bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam không chỉ là những tuyên bố chính trị mà đã được thể chế hóa một cách toàn diện trong hệ thống pháp luật lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển. Đây là một tư duy pháp lý hiện đại, vừa phù hợp với thực tiễn đất nước, vừa cho thấy sự tương thích với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.
Thành viên tích cực về quyền con người của cộng đồng quốc tế
Việt Nam bắt đầu tham gia các điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người trong bối cảnh đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, gặp nhiều khó khăn trên tất cả lĩnh vực. Đây là một minh chứng rõ nét về nỗ lực của Nhà nước ta trong việc bảo đảm, thúc đẩy các quyền con người theo các chuẩn mực quốc tế.
Trong đối ngoại, Việt Nam thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ theo các công ước quốc tế về quyền con người, tham gia tích cực Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Liên hợp quốc (LHQ) và nhiều cơ chế giám sát điều ước khác. Các báo cáo quốc gia gần đây đều cho thấy Việt Nam tiếp tục hoàn thiện pháp luật, tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng Hiến chương LHQ, pháp luật quốc tế và điều kiện thực tiễn của quốc gia. Việt Nam ngày càng tham gia tích cực tại các diễn đàn quốc tế về quyền con người, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những cam kết theo cơ chế UPR và thực thi các nghĩa vụ theo những điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.
PGS, TS Tường Duy Kiên, Viện trưởng Viện Quyền con người (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định: Đóng góp quốc tế của Việt Nam về quyền con người ngày càng chuyển từ “tham gia” sang “chủ động đề xuất, đồng kiến tạo và dẫn dắt một số sáng kiến”. Việt Nam là một thành viên chủ động, trách nhiệm và có đóng góp thực chất. Uy tín quốc tế không được tạo ra bằng lời tự ca ngợi, mà bằng lá phiếu của các quốc gia, khả năng tập hợp đồng thuận, sáng kiến được thông qua và cam kết được thực hiện.
Điểm nhất quán trong đóng góp của Việt Nam là thông điệp “tôn trọng và hiểu biết-đối thoại và hợp tác-tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”. Việt Nam không phủ nhận sự khác biệt giữa các quốc gia, nhưng cho rằng khác biệt không thể là lý do để áp đặt, đối đầu hoặc biến quyền con người thành công cụ can thiệp. Ngược lại, chủ quyền cũng không thể là lý do để né tránh nghĩa vụ quốc tế đã tự nguyện cam kết. Hai nguyên tắc này phải được đặt trong quan hệ cân bằng, có trách nhiệm.
Quyền con người được pháp luật bảo đảm
“Nền tảng vững chắc nhất cho việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam là Hiến pháp năm 2013. Đây được coi là một bước ngoặt quan trọng khi văn bản pháp lý cao nhất này không chỉ ghi nhận mà còn xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”, PGS, TS Nguyễn Toàn Thắng, Trường Đại học Luật Hà Nội, nhận định.
Trên cơ sở các nguyên tắc hiến định, hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng bước được cụ thể hóa để bao quát hầu hết các nhóm quyền cơ bản của con người. PGS, TS Nguyễn Toàn Thắng cho biết: Về nhóm quyền dân sự và chính trị đã được hiện thực hóa qua Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, cùng các luật chuyên ngành như Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Đối với các nhóm quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cũng được bảo đảm thông qua một mạng lưới luật pháp thực tiễn bao gồm Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật Giáo dục; Luật Nhà ở và Luật Đất đai. Đặc biệt, Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ thống pháp luật chuyên ngành tương đối toàn diện để bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương như Luật Trẻ em; Luật Người khuyết tật; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Phòng, chống mua bán người hay Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Một điểm đáng chú ý trong tư duy lập pháp hiện nay của Việt Nam là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ việc "ghi nhận quyền" sang xây dựng các cơ chế để người dân thực sự thực hiện và được bảo vệ các quyền đó trên thực tế.
Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân là mục tiêu cốt lõi của quá trình hoàn thiện thể chế. Tiếp đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới yêu cầu xây dựng pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời coi chất lượng tổ chức thi hành pháp luật là tiêu chí đánh giá hiệu quả của hệ thống pháp luật. Cách tiếp cận này phản ánh sự chuyển biến từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, kiến tạo phát triển và bảo đảm quyền.
Có thể thấy rằng, Việt Nam đã thể hiện trách nhiệm cao khi tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản nhất về quyền con người, bao gồm Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW), Công ước về quyền trẻ em (CRC), Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD)... Năm 2015, Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, qua đó khẳng định cam kết mạnh mẽ trong việc bảo vệ nhân phẩm và quyền tự do của cá nhân. Ngoài ra, với tư cách là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam đã tham gia 25 công ước liên quan đến quyền lao động, từ việc quy định tuổi tối thiểu của trẻ em đến bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và chống lao động cưỡng bức...
Việc nội luật hóa các cam kết quốc tế này vào hệ thống luật pháp quốc gia không chỉ là nghĩa vụ mà còn là nỗ lực tự thân nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Thành tựu thực tiễn trong việc bảo đảm quyền học tập, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội đã giúp Việt Nam nhận được sự ghi nhận lớn từ cộng đồng quốc tế. Minh chứng rõ ràng nhất cho điều này là việc Việt Nam liên tục được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ trong nhiều nhiệm kỳ. Đặc biệt, vào ngày 14-10-2025, Việt Nam đã trúng cử nhiệm kỳ 2026-2028 với số phiếu ủng hộ cao nhất trong nhóm châu Á-Thái Bình Dương (180 phiếu), khẳng định vị thế và uy tín của đất nước trong lĩnh vực bảo vệ nhân quyền toàn cầu.
Bảo đảm mọi quyền con người là mục tiêu xuyên suốt
Thành tựu về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận, nhưng dưới chiêu bài “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, các thế lực thù địch vẫn cố tình bóp méo bản chất các vụ án hình sự, công kích hệ thống pháp luật và tung ra các báo cáo phiến diện nhằm bôi nhọ uy tín quốc tế của Việt Nam. Có những luận điệu, cáo buộc của một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài vô căn cứ và vô lý đến mức khó ai chấp nhận được. Ví dụ, chiều 23-7, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, khi trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam về việc Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) ra tuyên bố kêu gọi trả tự do cho 5 người bị khởi tố liên quan đến sách "Chuyện với Thanh-Lời kể mới về ánh sáng", Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định: "Cái gọi là cáo buộc của Tổ chức Theo dõi nhân quyền không đáng để bình luận".
Ví dụ trên cũng tái khẳng định những tiếng nói lạc lõng, những cáo buộc vô căn cứ của các thế lực phản động không thể bôi đen những thành tựu trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”.
Về vấn đề này, PGS, TS Tường Duy Kiên cho biết, khuôn khổ hiến định về quyền con người, quyền công dân ngày càng đầy đủ và chặt chẽ. Hiến pháp năm 2013 dành toàn bộ Chương II quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Hiến pháp đồng thời ghi nhận các quyền có ý nghĩa trực tiếp đối với đời sống chính trị như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền được xét xử công bằng và suy đoán vô tội. Đây là chuẩn mực có giá trị ràng buộc đối với hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Bên cạnh đó, quyền làm chủ và tham gia đời sống chính trị của nhân dân tiếp tục được thực hiện trên quy mô rộng lớn. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, có khoảng 76,2 triệu cử tri tham gia, đạt 99,70%. Quốc hội khóa XVI bầu đủ 500 đại biểu; trong đó có 150 đại biểu nữ, chiếm 30%; 76 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 15,2%; 18 đại biểu ngoài Đảng, chiếm 3,6%; tỷ lệ đại biểu dự kiến hoạt động chuyên trách đạt 40%, cao nhất từ trước đến nay. Những con số này là minh chứng bác bỏ luận điệu cho rằng người dân Việt Nam bị đứng ngoài đời sống chính trị hoặc cơ quan đại diện chỉ có một cơ cấu khép kín, bất biến.
Quyền của người bị giam giữ được bảo đảm tốt hơn
Thời gian qua, các thế lực thù địch cũng xuyên tạc, bịa đặt về việc Việt Nam vi phạm nhân quyền trong công tác giam giữ tội phạm. PGS, TS Tường Duy Kiên khẳng định: Pháp luật Việt Nam cấm tuyệt đối tra tấn, bức cung, nhục hình hoặc đối xử vô nhân đạo; có cơ chế phòng ngừa, giám sát và xử lý, bất kỳ vi phạm nào được chứng minh đều phải bị truy cứu. Không thể từ một cáo buộc chưa được kiểm chứng hoặc từ sai phạm của một cá nhân (nếu có) suy diễn thành “chính sách của Nhà nước Việt Nam”. Mặt khác, đánh giá quyền con người phải dựa trên chuẩn mực pháp lý, khả năng thụ hưởng thực tế và cơ chế kiểm soát quyền lực. Muốn đánh giá khách quan, phải xem cả nghĩa vụ quốc tế, pháp luật trong nước, điều kiện giam giữ, cơ chế giám sát và chính sách giáo dục, tái hòa nhập.
Thực tế là, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa các quy định của pháp luật quốc tế về quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện. Theo Hiến pháp năm 2013, mọi người không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, ngày 28-11-2014, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn việc tham gia và thực hiện Công ước của LHQ về chống tra tấn. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013.
PGS, TS Tường Duy Kiên cho rằng, các chính sách hình sự của Việt Nam không chỉ trừng phạt mà còn giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập. Một chính sách nhân đạo chỉ có ý nghĩa khi người trở về có cơ hội làm lại cuộc đời; nếu chỉ mở cánh cửa trại giam mà đóng mọi cánh cửa việc làm, tín dụng và hòa nhập xã hội thì mục tiêu cải tạo chưa thể trọn vẹn.
(còn nữa)
Báo QĐND

Những thông điệp thiết thực về an toàn sốNgày 6/8 hàng năm được chọn là Ngày An ninh mạng Việt Nam nhằm nâng cao nhận th...
06/08/2026

Những thông điệp thiết thực về an toàn số
Ngày 6/8 hàng năm được chọn là Ngày An ninh mạng Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội đối với công tác bảo đảm an ninh mạng, khẳng định vai trò, ý nghĩa của an ninh mạng trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy sự tham gia của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong xây dựng không gian số an toàn, lành mạnh và đáng tin cậy.
Trong bối cảnh các hình thức lừa đảo trực tuyến, đánh cắp dữ liệu cá nhân, phát tán thông tin giả và các thủ đoạn lợi dụng công nghệ cao ngày càng tinh vi, việc nâng cao kỹ năng số cho người dân trở thành yêu cầu cấp thiết.
Hưởng ứng Ngày An ninh mạng Việt Nam năm 2026, nhiều thông điệp tuyên truyền được khuyến khích lan tỏa rộng rãi nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành động của cộng đồng. Theo đó, mỗi cá nhân cần chủ động xây dựng “lá chắn số” cho bản thân và gia đình bằng cách nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng nhận diện các nguy cơ trên không gian mạng, sử dụng Internet an toàn và biết cách bảo vệ thông tin cá nhân trước các hành vi lừa đảo, xâm phạm dữ liệu.
TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc

Address

Lai Châu

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy UBND tỉnh Lai Châu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share