Công an xã Tân Tri, tỉnh Lạng Sơn

Công an xã Tân Tri, tỉnh Lạng Sơn 🇻🇳 Vì an ninh Tổ quốc 🇻🇳

25/08/2026
24/08/2026
MÙA VU LAN BÁO HIẾU: PHÓNG SINH ĐÚNG CÁCH – GIEO TÂM BỒ ĐỀ, BẢO VỆ THIÊN NHIÊN! 🌿🕊️Tháng 7 Âm lịch là dịp cao điểm diễn ...
22/08/2026

MÙA VU LAN BÁO HIẾU: PHÓNG SINH ĐÚNG CÁCH – GIEO TÂM BỒ ĐỀ, BẢO VỆ THIÊN NHIÊN! 🌿🕊️

Tháng 7 Âm lịch là dịp cao điểm diễn ra các hoạt động phóng sinh gắn với đời sống tín ngưỡng, tâm linh của Tăng ni, Phật tử và Nhân dân. Phóng sinh là nét đẹp thể hiện tinh thần từ bi, hướng thiện. Tuy nhiên, việc mua bán, thả các loài động vật không đúng cách có thể vô tình làm tổn hại môi trường sinh thái và tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật.

Công an xã Tân Tri khuyến cáo đến toàn thể Nhân dân:
❌ KHÔNG săn bắt, bẫy, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép động vật hoang dã, chim di cư, thủy sản.

❌ KHÔNG sử dụng các công cụ hủy hoại nguồn lợi thủy sản như máy xung kích điện.

❌ KHÔNG phóng sinh các loài sinh vật ngoại lai xâm hại (rùa tai đỏ, tôm hùm đất, cá lau kính...), các loài không rõ nguồn gốc hoặc không phù hợp với môi trường tự nhiên tại địa phương.

✅ NÊN: Thực hành phóng sinh đúng cách – KHÔNG mua động vật từ hoạt động khai thác tự nhiên hay buôn bán thương mại để thả. Phóng sinh từ tâm, không tạo ra "nguồn cầu" khiến các loài động vật bị săn bắt, nuôi nhốt.

⚖️ LƯU Ý:
Mọi hành vi săn bắt, tàng trữ, buôn bán trái phép động vật hoang dã, sử dụng xung điện đánh bắt thủy sản đều là VI PHẠM PHÁP LUẬT và sẽ bị xử lý nghiêm.

Hãy cùng Công an xã Tân Tri chung tay bảo vệ đa dạng sinh học, giữ gìn nét đẹp văn hóa phóng sinh văn minh! 💚
📞 Phát hiện vi phạm, xin vui lòng báo ngay cho Công an xã Tân Tri qua SĐT 02053909021

22/08/2026
Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mớiTrong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh ...
17/08/2026

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh xác định đầu tư kết cấu hạ tầng là một trong ba đột phá chiến lược, tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng (GPMB), thủ tục đầu tư và nguồn lực triển khai, tỉnh vẫn tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án giao thông, cảng biển và hạ tầng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo thêm dư địa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% trong năm 2026.

Trong nhiều năm qua, Quảng Ninh dành ưu tiên cao cho phát triển kết cấu hạ tầng, coi đây không chỉ là điều kiện nâng cao khả năng kết nối vùng, thu hút đầu tư mà còn là yếu tố quan trọng để hình thành các động lực tăng trưởng mới. Kết quả đầu tư những tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy định hướng này. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 61.300 tỷ đồng, tăng 16,4%, qua đó tạo nền tảng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm tăng 13%. Điểm đáng chú ý là nguồn lực đang được tập trung vào các công trình có tính chất động lực, có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều dự án giao thông, cảng biển, logistics và hạ tầng kinh tế trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, đồng thời các vướng mắc về thủ tục, GPMB, vật liệu và nguồn lực đầu tư được tập trung tháo gỡ.

Trong nhóm dự án ngoài ngân sách, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh (giai đoạn 1) đang được tỉnh đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế và UBND phường Móng Cái 2 liên tục kiểm tra hiện trường, hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn vật liệu san lấp và tiến độ thi công. Ban Quản lý Khu kinh tế đã yêu cầu chủ đầu tư rà soát tổng thể tiến độ, xây dựng kế hoạch chi tiết và cam kết hoàn thành toàn bộ dự án trong tháng 12/2026.

Cùng với Vạn Ninh, Bến cảng tổng hợp Con Ong - Hòn Nét được xác định là dự án có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Theo Quyết định số 860/QĐ-BXD ngày 19/6/2025 của Bộ Xây dựng, khu bến được quy hoạch phát triển thành khu bến cảng tổng hợp, container và hàng rời, gồm 2 cầu cảng, công suất khoảng 4,5-6 triệu tấn/năm vào năm 2030, hướng tới hình thành cảng trung chuyển quốc tế phía Bắc. Tuy nhiên, do yêu cầu về quy mô đầu tư, hạ tầng kết nối và nguồn lực rất lớn, đến nay dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Trước thực tế này, Quảng Ninh đang chủ động tìm kiếm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của dự án, trong đó phối hợp với Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) nghiên cứu định hướng phát triển hạ tầng cảng biển; đồng thời đề xuất Bộ Xây dựng hỗ trợ đầu tư nạo vét luồng Cẩm Phả vào khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Việc tháo gỡ từng điểm nghẽn, chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kết nối và điều kiện khai thác được kỳ vọng sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, từng bước phát huy lợi thế về vị trí cửa ngõ, cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Qua đó, những công trình hạ tầng trọng điểm không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại mà còn góp phần mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng cho tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Song hành với việc đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn, Quảng Ninh đang chú trọng nâng cấp, hoàn thiện hệ thống luồng hàng hải, qua đó nâng cao năng lực khai thác cảng biển và kết nối logistics. Các dự án nâng cấp tuyến luồng sông Chanh, duy tu luồng Cẩm Phả và luồng Hòn G*i - Cái Lân đã được Bộ Xây dựng đưa vào danh mục rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang triển khai các thủ tục để thực hiện nạo vét, duy tu các tuyến luồng trong năm 2026 và đầu năm 2027.

Đáng chú ý, các dự án hạ tầng đang được triển khai có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống quy hoạch chiến lược được tỉnh công bố ngày 30/6/2026, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh; Quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức lại không gian phát triển, mở rộng các khu vực đô thị, công nghiệp, logistics và kinh tế biển theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Đặc biệt, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất bổ sung tuyến cao tốc kết nối cao tốc Hải Phòng - Hạ Long với đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nếu được đầu tư, tuyến kết nối này sẽ mở thêm hướng liên kết giữa Quảng Ninh với vùng thủ đô và các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc, qua đó tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển công nghiệp, logistics, thương mại và đô thị.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, mỗi công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông, vận tải trước mắt mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Cao tốc mở rộng khả năng kết nối và thu hút đầu tư; cảng biển nâng cao năng lực xuất nhập khẩu; các khu công nghiệp tạo thêm mặt bằng cho sản xuất; trong khi hệ thống logistics đồng bộ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các công trình động lực; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư, GPMB; nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực hiện cam kết tiến độ. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tỉnh chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ. Cùng với đó, đẩy mạnh xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực hạ tầng, cảng biển và logistics, từng bước biến lợi thế về vị trí, kết nối và kinh tế biển thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.





Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tếNghị quyết số 79-NQ/TW...
17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế

Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.

Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.

Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.

Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.

Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực

Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.

Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.

Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.






Address

Lang Son

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công an xã Tân Tri, tỉnh Lạng Sơn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category