SAO VÀNG TỊNH KHÊ

SAO VÀNG TỊNH KHÊ Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from SAO VÀNG TỊNH KHÊ, Political organisation, Thôn An Kỳ, xã Tịnh Khê, Quang Ngai.

07/09/2026
07/09/2026

Vun đắp quan hệ Nga - Việt Nam trên nền tảng đối thoại chính trị thường xuyên

Tác giả: HÀ PHƯƠNG

Quan hệ Nga-Việt Nam đang phát triển năng động trên nhiều lĩnh vực dựa trên nền tảng vững chắc của tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau được vun đắp trong nhiều năm. Đó là chia sẻ của Đại sứ Nga tại Việt Nam Gennady Stepanovich Bezdetko nhân chuyến thăm cấp nhà nước tới Liên bang (LB) Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm theo lời mời của Tổng thống LB Nga Vladimir Putin.

Theo Đại sứ Gennady Stepanovich Bezdetko, một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố và không ngừng phát triển quan hệ Nga-Việt Nam là đối thoại chính trị thường xuyên, thực chất ở các cấp, nhất là cấp cao. Đại sứ cho rằng, điều này cho phép hai bên, trên tinh thần xây dựng và tin cậy, “đối chiếu quan điểm về các vấn đề thời sự trong chương trình nghị sự quốc tế và song phương”.

Đại sứ nhấn mạnh, năm 2026 chứng kiến hàng loạt chuyến thăm của lãnh đạo chủ chốt hai bên, trong đó có các chuyến thăm Nga của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam (Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm chính thức vào tháng 3, Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN-Nga vào tháng 6); Đặc phái viên của Tổng Bí thư Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung (tháng 2); Phó thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc dự Diễn đàn Kinh tế quốc tế Saint Petersburg (SPIEF) lần thứ 29 (tháng 6); Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn tham dự Diễn đàn Kinh tế phương Đông lần thứ 11 tại Vladivostok (tháng 9). Ở chiều ngược lại, nhiều đoàn đại biểu cấp cao của Nga do lãnh đạo các cơ quan nghị viện, các địa phương, các bộ và cơ quan liên bang, các cơ sở khoa học và giáo dục, các hiệp hội công thương... đã đến thăm Việt Nam.

“Chúng tôi đánh giá chuyến thăm LB Nga lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Nga-Việt Nam. Chúng tôi kỳ vọng hai bên sẽ thảo luận thực chất toàn bộ vấn đề trong chương trình nghị sự song phương, thống nhất những hướng hợp tác mới trong dài hạn và đưa ra các quyết định cụ thể nhằm tiếp tục củng cố vững chắc quan hệ hai nước”, Đại sứ Gennady Stepanovich Bezdetko chia sẻ.

Đề cập tới hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế-thương mại-đầu tư, Đại sứ Nga cho rằng đây là những lĩnh vực then chốt để khai thác hiệu quả tiềm năng hợp tác song phương, nhấn mạnh “việc phát triển các lĩnh vực này đã được xác định là ưu tiên cơ bản trong Tuyên bố chung về những định hướng lớn của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Nga-Việt Nam trong giai đoạn hợp tác mới” được lãnh đạo hai nước thông qua hồi tháng 5-2025, nhân dịp Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) thăm chính thức LB Nga và tham dự Lễ duyệt binh kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Cùng với đó là Kế hoạch tổng thể đến năm 2030 mà hai bên ký kết nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Mikhail Mishustin vào tháng 1-2025.

Đại sứ Nga tin tưởng việc tăng cường quan hệ kinh tế đáp ứng lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Việt Nam là một quốc gia phát triển năng động, có vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào và là một trong những trung tâm sản xuất, trung tâm logistics của Đông Nam Á. Về phần mình, Nga sở hữu các công nghệ hiện đại, những năng lực độc đáo trong lĩnh vực năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, tri thức khoa học và tài nguyên. “Những yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác cùng có lợi trong dài hạn”, nhà ngoại giao Nga nhấn mạnh.

Nhận định hợp tác năng lượng đóng vai trò là một trụ cột quan trọng trong hợp tác song phương, Đại sứ Gennady Stepanovich Bezdetko cho biết, tổ hợp nhiên liệu-năng lượng theo truyền thống vẫn là một trong những lĩnh vực ưu tiên của hợp tác Nga-Việt Nam, với Liên doanh Vietsovpetro hoạt động trên thềm lục địa Việt Nam từ thập niên 1980 là một ví dụ tiêu biểu về hợp tác hiệu quả giữa hai nước. Hai bên đang nghiên cứu khả năng cung cấp khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) của Nga cho Việt Nam và xây dựng hạ tầng sản xuất cần thiết. Bên cạnh đó, hai bên còn dư địa rất lớn về hợp tác trong các lĩnh vực chế tạo máy, công nghiệp chế biến, giao thông vận tải, đóng tàu, nông nghiệp, công nghiệp thủy sản, công nghệ số, dược phẩm, y tế và du lịch... Hợp tác trong lĩnh vực khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo có bề dày lịch sử, truyền thống lâu năm, với Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga là một điểm sáng. Ngoài ra, trí tuệ nhân tạo và an ninh thông tin thuộc nhóm những lĩnh vực ưu tiên hợp tác, mà theo Đại sứ Nga, trong bối cảnh địa chính trị hiện nay, việc tập hợp tiềm lực và trao đổi kinh nghiệm trong các ngành chiến lược là yêu cầu cấp thiết đối với cả hai quốc gia.

Báo QĐND

Đại sứ Liên bang Nga tại Việt Nam Gennady Stepanovich Bezdetko.



07/09/2026

Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 'Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững' do Việt Nam đề xuất

Phát biểu giới thiệu Nghị quyết, Đại sứ Đỗ Hùng Việt nhấn mạnh văn hóa tạo nên bản sắc, kết nối cộng đồng, khơi nguồn sáng tạo và đổi mới, đồng thời đóng góp vào sinh kế và phát triển bền vững.

Ngày 4/9, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết "Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững giai đoạn 2027-2036" do Việt Nam đề xuất và thúc đẩy cùng nhóm nòng cốt gồm Cyprus, Italy, Lào, Qatar và Saint Kitts và Nevis, với tổng số 103 nước đồng bảo trợ.

Tại New York, nghị quyết xác định giai đoạn 2027-2036 là Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững, tạo khuôn khổ dài hạn để các quốc gia và cộng đồng quốc tế tăng cường hành động, lồng ghép ngày càng sâu rộng văn hóa vào các chính sách phát triển.

Nghị quyết xác định Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) giữ vai trò đầu mối triển khai Thập kỷ, phối hợp xây dựng các hoạt động, chương trình và kế hoạch hành động cụ thể cùng với các nước thành viên.

Phát biểu giới thiệu nghị quyết trước Đại Hội đồng Liên hợp quốc, Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, nhấn mạnh văn hóa tạo nên bản sắc, kết nối cộng đồng, khơi nguồn sáng tạo và đổi mới, đồng thời đóng góp vào sinh kế và phát triển bền vững.

Theo Đại sứ, thập kỷ quốc tế sẽ tạo khuôn khổ để chuyển từ nhận thức sang hành động, huy động sự ủng hộ chính trị và các nguồn lực, thúc đẩy quan hệ đối tác, chia sẻ tri thức và kinh nghiệm, qua đó đưa văn hóa ngày càng giữ vị trí quan trọng trong chương trình nghị sự phát triển toàn cầu.

Trong phát biểu, các nước đánh giá cao sáng kiến và khẳng định vai trò thiết yếu của văn hóa đối với phát triển bền vững, thúc đẩy hợp tác, đối thoại và hiểu biết lẫn nhau.

Việc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua sáng kiến khẳng định sự đồng thuận ngày càng sâu rộng của cộng đồng quốc tế về vai trò then chốt của văn hóa trong thực hiện Chương trình nghị sự 2030.

Nghị quyết nhìn nhận văn hóa là một thành tố thiết yếu của phát triển con người; là nguồn của bản sắc, đổi mới và sáng tạo; đồng thời là nhân tố quan trọng thúc đẩy gắn kết và hòa nhập xã hội, xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế bền vững và sự tham gia chủ động của người dân vào tiến trình phát triển.

Từ góc độ phát triển bền vững, Nghị quyết nhấn mạnh sức mạnh của văn hóa trong việc tạo thu nhập, việc làm bền vững và một khu vực kinh tế có sức sống; phát huy giá trị của di sản văn hóa cùng các ngành văn hóa và sáng tạo; đồng thời đóng góp các giải pháp đổi mới cho những vấn đề liên ngành như giáo dục, y tế, bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, công nghệ và môi trường.

Đại Hội đồng Liên hợp quốc cũng tái khẳng định yêu cầu lồng ghép hiệu quả văn hóa vào các chính sách và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đi đôi với bảo đảm đầu tư công thích đáng cho bảo vệ và phát huy văn hóa.

Đối với Việt Nam, kết quả này là thành quả của quá trình chủ động đề xuất và kiên trì thúc đẩy sáng kiến tại UNESCO và Liên hợp quốc nói chung.

Từ một ý tưởng do Việt Nam khởi xướng, sáng kiến đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi và được phát triển thành khuôn khổ hợp tác của Liên hợp quốc cho cả một thập kỷ, qua đó góp phần khẳng định vai trò, uy tín và dấu ấn ngày càng rõ nét của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đồng thời thể hiện khả năng đóng góp những sáng kiến thiết thực, phù hợp với quan tâm chung của cộng đồng quốc tế.

Theo TTXVN

Báo CAND

Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, phát biểu giới thiệu Nghị quyết. Ảnh: Thanh Tuấn/TTXVN



07/09/2026

Chuyến công tác có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ giữa Việt Nam với Nga và Pháp

Tác giả: ĐOÀN CA

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp nhà nước tới Liên bang (LB) Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ (KGVT), Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã trả lời phỏng vấn báo chí về chuyến thăm. Báo Quân đội nhân dân giới thiệu cùng bạn đọc nội dung phỏng vấn.

Phóng viên (PV): Đề nghị Thứ trưởng cho biết mục đích, ý nghĩa nổi bật các chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm?

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng: Chuyến công tác thể hiện ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng khi đây là chuyến thăm cấp nhà nước tới LB Nga đầu tiên của người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta kể từ năm 1991, nhất là diễn ra ngay sau Đại hội lần thứ XIV của Đảng và bầu cử Quốc hội khóa XVI; cũng là chuyến thăm chính thức Pháp lần thứ hai của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đồng thời là lần thứ hai người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam tham dự sự kiện quốc tế do Pháp tổ chức, đặc biệt đây là hội nghị ở cấp nguyên thủ lần đầu tiên trên thế giới về lĩnh vực KGVT. Chuyến thăm thể hiện sự coi trọng của Việt Nam đối với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, tạo ra những dấu mốc mới, khai thác tối đa thế mạnh của Việt Nam và các nước để phục vụ cho quá trính phát triển mới của mỗi bên cũng như mở ra cơ hội hợp tác về một lĩnh vực của tương lai là KGVT.

Chuyến thăm lần này khẳng định sự nhất quán, kế thừa và coi trọng cao của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược toàn diện với LB Nga. Chuyến thăm cũng là minh chứng rõ nét cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam; đồng thời tranh thủ những nguồn lực phù hợp về năng lượng, khoa học-công nghệ (KHCN), đào tạo nhân lực và phát triển hạ tầng, triển khai các nghị quyết của Bộ Chính trị để phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đây cũng là dịp để lãnh đạo cao nhất hai nước trao đổi sâu rộng về những vấn đề chiến lược, xác lập tầm nhìn dài hạn và tạo dấu mốc mới, xung lực chính trị mới nhằm nâng tầm toàn diện quan hệ Việt Nam-Nga, gắn hợp tác song phương với các mục tiêu phát triển của mỗi nước trong giai đoạn mới.

Chuyến thăm cũng khẳng định sự coi trọng đặc biệt của Việt Nam đối với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Pháp; đồng thời góp phần đưa hai nước trở thành những đầu cầu chiến lược của nhau tại hai khu vực EU và ASEAN. Bên cạnh đó, chuyến thăm cũng là cơ hội để kết nối những lĩnh vực thế mạnh của Pháp về KHCN, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và các ngành công nghệ chiến lược với nhu cầu phát triển mới của Việt Nam, qua đó thu hút thêm các nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước, góp phần tạo thêm động lực để đưa quan hệ đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn.

Trên bình diện đa phương, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Hội nghị thượng đỉnh KGVT tại Paris thể hiện tầm nhìn phát triển và tinh thần chủ động hội nhập của Việt Nam, triển khai ở cấp cao nhất các chủ trương, định hướng lớn của Đảng về đối ngoại, hội nhập quốc tế và phát triển KHCN, ĐMST, tạo điều kiện để Việt Nam tham gia định hình các khuôn khổ hợp tác quốc tế trong một lĩnh vực ngày càng có ý nghĩa chiến lược đối với chúng ta. Việc tham dự hội nghị là dịp quan trọng để Việt Nam đóng góp tiếng nói vào định hình quản trị KGVT theo hướng vì hòa bình, an toàn, bền vững, công bằng, vì lợi ích chung của nhân loại; qua đó tiếp tục khẳng định hình ảnh một Việt Nam chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong xử lý các vấn đề toàn cầu.

PV: Theo Thứ trưởng, chuyến thăm lần này được kỳ vọng sẽ đạt được những định hướng quan trọng nào đối với quan hệ giữa Việt Nam và các nước?

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng: Với Nga, dựa trên nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược toàn diện được xây dựng và vun đắp hơn 76 năm qua, chuyến thăm được kỳ vọng sẽ củng cố hơn nữa nền tảng tin cậy chính trị và tăng cường vai trò của ngoại giao nguyên thủ thông qua việc duy trì thường xuyên tiếp xúc giữa lãnh đạo cao nhất hai nước; nâng cao hiệu quả hợp tác trên các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và giao lưu nhân dân; phát huy hiệu quả hoạt động của các cơ chế Ủy ban liên chính phủ và Ủy ban hợp tác liên nghị viện... Đồng thời, tạo chuyển biến đột phá trong các trụ cột hợp tác truyền thống, trước hết là dầu khí, năng lượng, trong đó có điện hạt nhân; đưa hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, kết nối và phát triển hạ tầng trở thành động lực mới; mở ra kết nối hàng không, hàng hải, đường sắt và thúc đẩy doanh nghiệp hai nước tham gia các dự án đầu tư tại thị trường của nhau. Bên cạnh đó, hai bên sẽ tạo sự gắn kết hơn nữa trong hợp tác KHCN, ĐMST và kết hợp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Với Pháp, chuyến thăm sẽ là dịp quan trọng để hai bên tiếp tục củng cố tin cậy chính trị, xác định tầm nhìn dài hạn và cụ thể hóa khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện bằng các chương trình, dự án và kết quả cụ thể, trong đó trước mắt là triển khai hiệu quả kế hoạch hành động giai đoạn 2026-2028. Đồng thời, tạo chuyển biến mạnh hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, đưa KHCN, ĐMST và chuyển đổi số trở thành động lực mới của quan hệ hai nước. Chuyến thăm cũng là dịp để hai bên mở ra những định hướng quan trọng trong các lĩnh vực chiến lược và phát triển bền vững như năng lượng mới, chuyển đổi xanh, biến đổi khí hậu, giao thông-hạ tầng, quốc phòng, an ninh, giáo dục-đào tạo; đồng thời tạo ra xung lực mới cho các lĩnh vực truyền thống như văn hóa, y tế, tư pháp, nông nghiệp và hợp tác địa phương.

Trong bối cảnh chuyến thăm diễn ra cùng với việc tham dự Hội nghị thượng đỉnh KGVT, có thể nói công nghệ và công nghiệp không gian cũng sẽ được kỳ vọng trở thành một hướng hợp tác chiến lược mới giữa Việt Nam và Pháp; đồng thời tạo điều kiện để Việt Nam tham gia từ sớm vào quá trình định hình các quy tắc, chuẩn mực và cơ chế quản trị toàn cầu đối với các lĩnh vực mới nổi của KGVT như các hệ thống giám sát không gian, dữ liệu, quản lý tần số, giao thông không gian... cũng như mở ra tiếp xúc, hợp tác thực chất đối với các đối tác quốc tế trong lĩnh vực này.

Chúng ta tin tưởng mạnh mẽ rằng chuyến thăm cấp nhà nước tới LB Nga, thăm chính thức tới Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh KGVT của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ đạt được những kết quả cụ thể, thực chất và có giá trị lâu dài; tạo thêm động lực mạnh mẽ, đột phá để chuyển từ các khuôn khổ và cam kết đã được xác lập sang giai đoạn triển khai sâu rộng, thực chất và hiệu quả hơn, qua đó đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của mỗi nước, vì lợi ích của nhân dân, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

PV: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!

Báo QĐND

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng. Ảnh: TRÀ NGUYỄN




07/09/2026

MỞ RA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI CHO QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI HÀN QUỐC VÀ MÔNG CỔ

Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Đại Hàn Dân Quốc Cho Jeong S*k và Phu nhân, Chủ tịch Quốc hội Mông Cổ Sandag Byambatsogt và Phu nhân, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Hàn Quốc và Mông Cổ từ ngày 6 đến 11/9/2026. Đây là chuyến thăm chính thức Hàn Quốc và Mông Cổ đầu tiên của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, cũng là chuyến thăm đầu tiên của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam tới Hàn Quốc sau 5 năm, tới Mông Cổ sau 23 năm.

Chuyến công tác của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhằm triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIV, Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, qua đó tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quan hệ Việt Nam với các nước, góp phần kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng không gian phát triển và huy động nguồn lực để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước. Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đổi mới, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, mong muốn có sự đồng hành, hỗ trợ toàn diện, sâu rộng, kịp thời, hiệu quả từ bạn bè quốc tế, trong đó có Hàn Quốc và Mông Cổ, chuyến thăm thể hiện sự coi trọng và ưu tiên cao của các bên trong việc tiếp tục làm sâu sắc mối quan hệ giữa Việt Nam với hai nước và tăng cường quan hệ cá nhân tin cậy, tốt đẹp giữa lãnh đạo chủ chốt Việt Nam với lãnh đạo chủ chốt Hàn Quốc và Mông Cổ.

Củng cố quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hàn Quốc

Thời gian qua, Chính phủ Hàn Quốc đã triển khai nhiều biện pháp quyết liệt nhằm khôi phục đà tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và đoàn kết toàn dân, thúc đẩy phát triển các lĩnh vực ưu tiên gồm trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, văn hóa, quốc phòng, năng lượng, số hóa nhà máy. Hàn Quốc chú trọng mở rộng quan hệ với các quốc gia Nam bán cầu, tăng cường hợp tác thực chất với khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam.

Trải qua gần 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (22/12/1992), Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc đã trở thành đối tác tin cậy, hợp tác ở tầm chiến lược và là những người bạn gần gũi, hiểu biết lẫn nhau. Việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 12/2022 là dấu mốc lịch sử, mở ra không gian hợp tác rộng lớn trên mọi lĩnh vực. Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hàn Quốc đã có những bước phát triển mạnh mẽ, thực chất, hiệu quả và toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Tin cậy chính trị không ngừng được củng cố, hoạt động trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao và các cấp diễn ra thường xuyên. Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung nhiều lần khẳng định cọi trọng quan hệ với Việt Nam và nhấn mạnh Hàn Quốc sẽ là đối tác tin cậy đồng hành trong triển khai hiệu quả hai mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và năm 2045 của Việt Nam.

Hợp tác kinh tế tiếp tục là trụ cột chính trong quan hệ hai nước và các cơ chế hợp tác kinh tế song phương được triển khai hiệu quả. Hợp tác quốc phòng, an ninh phát triển thực chất thông qua nhiều dự án, thỏa thuận hợp tác cụ thể được ký kết. Hợp tác khoa học công nghệ được xác định là trụ cột mới trong quan hệ song phương. Hợp tác lao động, văn hóa, du lịch, giáo dục được mở rộng. Giao lưu nhân dân được duy trì với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Hiện có gần 400.000 người Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc tại Hàn Quốc và khoảng hơn 200.000 người Hàn Quốc tại Việt Nam, là cầu nối vững chắc gắn kết quan hệ hai nước.

Hợp tác nghị viện là một trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hàn Quốc. Quan hệ giữa các cơ quan lập pháp Việt Nam và Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ, thực chất, đạt nhiều thành quả mới, góp phần quan trọng làm sâu sắc hơn quan hệ giữa hai nước. Hai bên thường xuyên hội đàm, tiếp xúc, trao đổi đoàn Lãnh đạo Quốc hội và cấp ủy ban, nhóm nghị sĩ hữu nghị, nhóm nữ đại biểu Quốc hội, nhóm đại biểu Quốc hội trẻ; thường xuyên giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, phối hợp đôn đốc, thúc đẩy triển khai tốt các thỏa thuận đã ký kết; hợp tác chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn nghị viện đa phương như Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Hội đồng liên Nghị viện ASEAN (AIPA), góp phần tích cực gìn giữ hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn đưa quan hệ hợp tác với Hàn Quốc phát triển lên tầm cao mới, thực chất, hiệu quả và bền vững lâu dài. Việt Nam ủng hộ các chính sách phát triển, nâng cao vai trò và vị thế quốc tế của Hàn Quốc, sẵn sàng phát huy vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam để tham gia thúc đẩy kết nối, đối thoại, duy trì hòa bình và ổn định tại khu vực. Hai bên tiếp tục tăng cường và mở rộng hợp tác giữa Quốc hội hai nước tương xứng với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.

Hợp tác ngoại giao nghị viện góp phần phát huy thế mạnh và kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc, tạo bước đột phá trong hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước và đặc biệt là phát huy hiệu quả trụ cột mới về hợp tác khoa học công nghệ: thúc đẩy hợp tác triển khai 10 nhóm ngành công nghệ chiến lược của Việt Nam; thu hút các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư gắn với công nghệ cao, thúc đẩy kết nối hạ tầng xanh-số, chuỗi cung ứng chiến lược, công nghiệp hỗ trợ, phát triển cụm liên kết ngành khu vực, mở rộng hợp tác tiêu chuẩn-công nhận lẫn nhau, tham gia các chuỗi cung ứng…

Nguồn: Báo Nhân Dân

Ảnh: Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung, tại Nhà Quốc hội, ngày 23/4/2026. (Ảnh: Duy Linh)









07/09/2026

Thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Mông Cổ

Dưới sự lãnh đạo, điều hành của Đảng Nhân dân Mông Cổ cầm quyền (MPP), kinh tế quốc gia Trung Á duy trì đà tăng trưởng ổn định dựa trên các lĩnh vực trụ cột gồm khoáng sản, xuất khẩu, chăn nuôi và đầu tư nước ngoài. Chính phủ Mông Cổ triển khai quyết liệt Chương trình hành động nhiệm kỳ 2024-2028, Kế hoạch phát triển giai đoạn 2026-2030 và "Tầm nhìn 2050". Mông Cổ thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, đa trụ cột và không liên kết; hợp tác sâu rộng, thực chất với Nhóm nước "láng giềng thứ ba", trong đó có Việt Nam.

Quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa Việt Nam và Mông Cổ được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ lãnh đạo hai nước xây dựng và dày công vun đắp. Việt Nam luôn trân trọng những tình cảm, sự giúp đỡ quý báu mà Nhà nước và Nhân dân Mông Cổ dành cho Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập trước đây và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ngày nay. Việt Nam ủng hộ các định hướng phát triển lớn của Mông Cổ, các nỗ lực hội nhập, nâng cao vai trò và vị thế của Mông Cổ trên trường quốc tế. Lãnh đạo Mông Cổ khẳng định coi Việt Nam là đối tác quan trọng hàng đầu tại khu vực Đông Nam Á.

Quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Mông Cổ phát triển tốt đẹp, đạt nhiều tiến triển tích cực và thực chất. Quan hệ kênh Đảng được tăng cường; tin cậy chính trị được củng cố; trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao, các cấp và địa phương được duy trì. Hợp tác quốc phòng, an ninh, tư pháp và thực thi pháp luật đang trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước với nhiều điểm sáng mới và thực chất. Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư ngày càng được cải thiện thông qua các thỏa thuận, cam kết và dự án hợp tác; cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế-thương mại, khoa học-kỹ thuật được triển khai thường xuyên. Hợp tác trên các lĩnh vực khác như văn hóa, du lịch, giáo dục, nông nghiệp, hợp tác địa phương và giao lưu nhân dân tiếp tục được mở rộng. Quan hệ hợp tác giữa hai Quốc hội tiếp tục được duy trì; trao đổi đoàn, tiếp xúc kênh lập pháp được thúc đẩy. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp, đặc biệt tăng cường hợp tác chặt chẽ giữa các ủy ban chuyên môn, nhóm nghị sĩ, nghị sĩ trẻ, nữ nghị sĩ và các cơ quan trực thuộc phù hợp với khuôn khổ quan hệ mới; tiếp tục duy trì hợp tác, ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn liên nghị viện khu vực, quốc tế như IPU, Diễn đàn Nghị viện châu Á-Thái Bình Dương (APPF), Đối tác Nghị viện Á-Âu (ASEP).

Việt Nam sẵn sàng hợp tác chặt chẽ, đưa hợp tác Quốc hội giữa Việt Nam và Mông Cổ sang giai đoạn phát triển mới, thực chất hơn, thông qua việc thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan lập pháp hai nước; thúc đẩy Chính phủ hai nước triển khai tốt các thỏa thuận đã ký; đề nghị Mông Cổ tạo điều kiện cho doanh nghiệp và công dân Việt Nam tại Mông Cổ làm ăn, sinh sống ổn định, lâu dài. Thúc đẩy hợp tác thực chất giữa các cơ quan lập pháp của hai nước góp phần tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh, kinh tế, nhất là khoa học công nghệ và các lĩnh vực hợp tác mới, tương xứng với nội hàm quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Mông Cổ.

Chuyến thăm chính thức Hàn Quốc và Mông Cổ của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam là minh chứng sinh động cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Sự phối hợp đồng bộ giữa Quốc hội Việt Nam với Quốc hội Hàn Quốc và Quốc hội Mông Cổ tại các diễn đàn nghị viện uy tín toàn cầu và khu vực sẽ góp phần nhân lên sức mạnh của tiếng nói hòa bình, thượng tôn luật pháp quốc tế. Chuyến thăm sẽ góp phần tiếp tục thúc đẩy giao lưu giữa các cơ quan lập pháp, tạo động lực quan trọng để mở ra giai đoạn phát triển mới cho hợp tác giữa Việt Nam với Hàn Quốc và Mông Cổ, vì hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Nguồn: Báo Nhân Dân

Ảnh: Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tiếp xã giao Đại sứ Mông Cổ tại Việt Nam Ganbaatar Hulan, tại Nhà Quốc hội, ngày 26/8/2026. (Ảnh: TTXVN)








07/09/2026

Phó Thủ tướng Nga: Đưa hợp tác Nga-Việt lên tầm cao mới
Nhận lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga từ ngày 7 đến 9/9.

Trước thềm chuyến thăm, Phó Thủ tướng Nga Dmitry Chernyshenko chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Nga về ý nghĩa, mục đích chuyến thăm.

Phóng viên: Thưa Phó Thủ tướng, quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Nga gần đây đạt được nhiều kết quả tích cực, trong đó có sự đóng góp của các cuộc tiếp xúc thường xuyên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Trong bối cảnh đó, ông đánh giá như thế nào về chuyến thăm cấp Nhà nước sắp tới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Nga?

Phó Thủ tướng Dmitry Chernyshenko: Tổng thống Nga Vladimir Putin nhấn mạnh: Việt Nam là đối tác lâu năm và đáng tin cậy của chúng tôi. Quan hệ Nga-Việt Nam được xây dựng trên nền tảng truyền thống hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau. Các cuộc tiếp xúc thường xuyên, tin cậy ở cấp cao nhất giữa lãnh đạo hai nước đóng vai trò quan trọng.

Cột mốc quan trọng đạt được vào tháng 6/2024, khi Nga và Việt Nam thông qua Tuyên bố chung về việc làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện - văn kiện đặt ra những định hướng mới cho hợp tác trong những năm tới. Đà phát triển này tiếp tục được duy trì vào năm 2025, khi Tổng thống Nga Vladimir Putin hội đàm với Tổng Bí thư Tô Lâm.

Sau đó, năm 2026 được tuyên bố là Năm Hợp tác khoa học-giáo dục Nga-Việt Nam, lĩnh vực luôn gắn kết nhân dân hai nước và nơi chúng ta có được những kinh nghiệm hợp tác độc đáo.

Chính vì vậy, chuyến thăm cấp Nhà nước tới đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Nga là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là sự tiếp nối truyền thống tiếp xúc thường xuyên, mà còn là cơ hội tạo động lực mới cho hợp tác song phương giữa hai nước, từ thương mại, kinh tế, khoa học, công nghệ đến quan hệ nhân văn và giáo dục, vốn đang được đặt lên hàng đầu trong Năm hợp tác khoa học-giáo dục hiện nay.

Tôi tin tưởng rằng chuyến thăm sẽ là một cột mốc quan trọng trong việc tăng cường hơn nữa quan hệ chiến lược giữa Nga và Việt Nam.

Phóng viên: Ông đánh giá như thế nào về hiện trạng và tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Nga trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo? Hai bên có thể thực hiện những bước nào để đưa lĩnh vực này thành động lực mới cho quan hệ song phương?

Phó Thủ tướng Dmitry Chernyshenko: Mức độ quan tâm và mong muốn hợp tác của Nga và Việt Nam trong lĩnh vực khoa học-giáo dục vốn luôn ở mức cao. Ủy ban Hợp tác giáo dục, khoa học và công nghệ Nga-Việt Nam đang hoạt động tốt, Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác thương mại, kinh tế và khoa học, kỹ thuật họp thường xuyên.

Trung tâm Nhiệt đới Nga-Việt Nam là nền tảng hàng đầu cho nghiên cứu chung. Chiến lược phát triển đến năm 2035 đã được phê duyệt cho Trung tâm. Về phía Nga, khoảng 60 tổ chức khoa học tham gia vào các hoạt động của Trung tâm, gồm các cơ quan trực thuộc Bộ Giáo dục và Khoa học Nga, Cơ quan giám sát, bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng Nga (Rospotrebnadzor) và Viện nghiên cứu Kurchatov.

Tôi đặc biệt nhấn mạnh lĩnh vực hàng hải. Từ năm 2018, các nhà khoa học Nga và Việt Nam đã tiến hành các chuyến thám hiểm chung trên các tàu nghiên cứu “Akademik Oparin” và “Akademik Lavrentyev”. Tháng 12/2025, Lộ trình Hợp tác nghiên cứu khoa học Biển giai đoạn 2026-2035 đã được ký kết. Tàu nghiên cứu "Giáo sư Gagarinsky" của Nga đã được chuyển giao cho Trung tâm Nhiệt đới. Năm nay, tàu đã thực hiện một chuyến thám hiểm nghiên cứu hiện trạng sinh thái vùng biển ven bờ Việt Nam.

Việc cấp kinh phí hỗ trợ các dự án chung cũng đang được phát triển tích cực. Về phía Nga, Bộ Giáo dục và Khoa học cùng Quỹ Khoa học Nga tổ chức các cuộc thi hằng năm, lựa chọn hàng chục dự án nghiên cứu triển vọng trong các lĩnh vực khoa học vật liệu, công nghệ sinh học, sinh thái học, nuôi trồng thủy sản và năng lượng tái tạo.

Về tiềm năng, tôi tin rằng dư địa còn rất lớn chưa được khai thác hết. Thứ nhất, cần mở rộng tài trợ cho các nghiên cứu chung, đưa cơ chế thi tuyển (giành tài trợ) thành thường xuyên và có kế hoạch đối với các nhà khoa học cả hai nước.

Thứ hai, cần đẩy mạnh trao đổi học thuật và hợp tác đào tạo nhân lực, gồm cả các chuyên gia kỹ thuật, thông qua các liên minh trường đại học kỹ thuật.

Thứ ba, nên tích cực đưa vào hợp tác các lĩnh vực công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, như trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và năng lượng tái tạo. Và tất nhiên, chúng ta phải tiếp tục củng cố khuôn khổ thể chế hợp tác giữa các trường đại học và tổ chức nghiên cứu của hai nước, hiện đang có hơn 500 thỏa thuận hợp tác có hiệu lực.

Phóng viên: Xin ông cho biết những nhóm sản phẩm cụ thể và mô hình hợp tác nào có tiềm năng đột phá lớn nhất, qua đó đưa kim ngạch thương mại song phương lên mức tương xứng quan hệ chính trị giữa hai nước?

Phó Thủ tướng Dmitry Chernyshenko: Tháng 10 năm nay kỷ niệm 10 năm Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU) và Việt Nam có hiệu lực. Thuế suất hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu từ các nước EAEU sang Việt Nam đã giảm xuống còn 1% (từ 9,5% năm 2015), và đối với hàng nhập khẩu là 2% (từ 9,7% năm 2015).

Đối với một số mặt hàng, Nga tiếp tục tăng đáng kể xuất khẩu sang Việt Nam, một phần là do tự do hóa thuế quan theo Hiệp định. Năm ngoái đã ghi nhận mức xuất khẩu kỷ lục phân bón - tăng 87% so mức năm trước và thịt lợn tăng 30,9%. Xuất khẩu năng lượng và polymer cũng tăng trưởng ổn định.

Trong khi đó, giai đoạn chuyển tiếp của Hiệp định đã kết thúc, và tiềm năng tăng nhanh thương mại của văn kiện này phần lớn đã khai thác hết. Do đó, điều quan trọng hiện nay là hai nước cần hình thành những nền tảng mới để phát triển hợp tác thương mại và đầu tư. Điều này đã được phản ánh trong Kế hoạch hợp tác toàn diện Nga-Việt Nam đến năm 2030, ký năm 2025, trong đó đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 15 tỷ USD.

Hiện nay, chúng ta thấy một số lĩnh vực tiềm năng thúc đẩy thương mại song phương. Tuy nhiên, theo tôi, điều quan trọng không chỉ là nhìn vào xuất khẩu từng loại hàng hóa riêng lẻ, mà phải tính đến khả năng mở rộng hợp tác công nghệ và sản xuất. Điều này đáp ứng cả lợi ích của Việt Nam trong việc tăng cường chủ quyền công nghệ cũng như nhu cầu tăng xuất khẩu của Nga.

Lĩnh vực đầu tiên là năng lượng và chế tạo máy năng lượng. Đây là lĩnh vực hợp tác truyền thống giữa Nga và Việt Nam, có tiềm năng rộng hơn nhiều so với các dự án hiện có. Hợp tác không chỉ có dầu khí, mà còn cả thiết bị năng lượng, lưới điện, sản xuất điện, dịch vụ và nội địa hóa sản xuất.

Lĩnh vực thứ hai là vận tải đường sắt và tàu điện ngầm. Lĩnh vực này đặc biệt triển vọng khi Việt Nam có kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị và đường sắt. Các doanh nghiệp Nga có năng lực không chỉ trong sản xuất đầu máy, toa xe mà còn cả thiết kế, xây dựng, điện khí hóa, tín hiệu, tự động hóa và quản lý hệ thống đường sắt. Do đó, hai nước có thể triển khai các dự án tổng thể, từ cung cấp thiết bị và công nghệ đến tham gia xây dựng metro và đường sắt, đào tạo nhân lực và bảo trì kỹ thuật.

Thứ ba là khai thác và chế biến khoáng sản. Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản đáng kể, song việc phát triển khai thác đòi hỏi công nghệ, thiết bị và năng lực hiện đại. Nga có thể cung cấp công nghệ thăm dò địa chất, khai thác và làm giàu khoáng sản, thiết bị khai thác mỏ, tự động hóa và các giải pháp chế biến quặng, bao gồm cả quặng kim loại. Điều này sẽ đồng thời làm tăng xuất khẩu các sản phẩm cơ khí của Nga và tạo cơ sở cho hợp tác đầu tư lâu dài.

Thứ tư là nông nghiệp và thực phẩm. Nga có lợi thế cạnh tranh trong các sản phẩm ngũ cốc, dầu mỡ, thức ăn chăn nuôi, thịt và một số loại nguyên liệu nông nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả lớn nhất là khi phát triển các chuỗi giá trị dài hơn: nguyên liệu trong nước, chế biến tại Việt Nam và tiếp cận chung thị trường ASEAN. Điều này sẽ cho phép hai nước không chỉ hạn chế ở cung cấp nguyên liệu thô mà tạo ra giá trị gia tăng, đồng thời mở rộng sự hiện diện của các công ty Nga trong khu vực.

Thứ năm là dược phẩm và thiết bị y tế. Việt Nam đang quan tâm đến việc tăng cường nguồn cung thuốc và phát triển ngành công nghiệp dược phẩm và y tế trong nước. Các doanh nghiệp Nga có thể cung cấp không chỉ thuốc thành phẩm mà còn cả các hoạt chất dược phẩm, công nghệ và thiết bị, cũng như thiết lập các cơ sở sản xuất tại địa phương, cung cấp dịch vụ và đào tạo chuyên gia.

Thứ sáu là công nghệ số. Nga có năng lực mạnh mẽ trong lĩnh vực an ninh mạng, công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, nhận dạng số và phần mềm doanh nghiệp. Việt Nam đang tích cực số hóa nền kinh tế, vì vậy các mô hình hợp tác doanh nghiệp với doanh nghiệp, các dự án công nghệ hợp tác và việc ứng dụng các giải pháp của Nga vào thị trường Việt Nam và cuối cùng là thị trường ASEAN rất hứa hẹn. Tất nhiên, để hiện thực hóa tất cả các cơ hội tiềm năng, cần giải quyết dứt điểm các vấn đề cơ sở hạ tầng - cơ chế thanh toán song phương, cải thiện logistics, tìm kiếm đối tác đáng tin cậy và điều chỉnh các sản phẩm của Nga cho phù hợp yêu cầu của thị trường Việt Nam. Những vấn đề này đang được giải quyết.

Về các hình thức mới, thương mại điện tử có tiềm năng rất lớn. Nga hiện đang nằm trong số các nước dẫn đầu thế giới về phát triển thương mại điện tử và các sàn thương mại điện tử đã trở thành một trong những kênh chính để quảng bá hàng hóa cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tại Việt Nam, thương mại điện tử cũng đang phát triển với tốc độ thuộc nhóm cao nhất Đông Nam Á. Việc thúc đẩy hợp tác giữa các sàn thương mại điện tử của Nga và Việt Nam có thể tạo điều kiện thuận lợi đáng kể cho các nhà sản xuất Nga.

Phóng viên: Với nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của Việt Nam và lợi thế rõ ràng của Nga về công nghệ, nguồn lực và kinh nghiệm trong lĩnh vực này, những lĩnh vực hợp tác năng lượng mới nào có thể được mở rộng giữa hai nước? Những dự án đầu tư mới nào trong lĩnh vực này có thể được triển khai trong thời gian tới đây, thưa Phó Thủ tướng?

Phó Thủ tướng Dmitry Chernyshenko: Một lĩnh vực là nền tảng để hợp tác sâu rộng hơn đang hình thành là năng lượng hạt nhân. Các trường đại học Nga cũng đang tham gia đào tạo đội ngũ kỹ thuật cho ngành công nghiệp hạt nhân Việt Nam. Năm học này, Chính phủ Việt Nam đã phân bổ 59 suất trong số học bổng Chính phủ Nga cho mục tiêu đào tạo chuyên gia công nghiệp hạt nhân tại các trường đại học Nga. Các trường đại học ở Nga và Việt Nam đang tích cực hợp tác trong nhiều lĩnh vực, bao gồm năng lượng hạt nhân và hydro, năng lượng tái tạo, điện lực và kỹ thuật điện, cũng như công nghiệp hàng không và công nghệ thông tin.

Phóng viên: Thưa Phó Thủ tướng, quan hệ giữa Việt Nam và Nga không chỉ được xây dựng trên cơ sở hợp tác chính trị, kinh tế mà còn trên nền tảng vững chắc của tình cảm đặc biệt và mối quan hệ giữa nhân dân hai nước. Theo ông, cần làm gì để tiếp tục phát triển hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và đặc biệt là thu hút sự quan tâm của thế hệ trẻ, nhằm tạo nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ Việt Nam-Nga trong giai đoạn phát triển mới này?

Phó Thủ tướng Dmitry Chernyshenko: Giao lưu sinh viên, các dự án khoa học-giáo dục chung, diễn đàn thanh niên và các chương trình văn hóa - tất cả những điều này cho phép thanh niên hai nước hiểu nhau hơn và thiết lập các mối liên hệ trực tiếp, để sau đó trở thành cơ sở cho hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Hiện nay, hơn 3.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại các trường đại học Nga. Hợp tác ngôn ngữ và giáo dục cũng rất phát triển. Tiếng Nga đã được giảng dạy tại Việt Nam từ những năm 1950.

Tôi cũng muốn đặc biệt đề cập đến Kỳ thi Olympic tiếng Nga, tổ chức từ năm 2023. Hơn 700 học sinh và sinh viên đã tham gia vòng loại mùa trước và những người chiến thắng được tham gia kỳ thực tập ngôn ngữ mùa Hè miễn phí tại Moskva. Theo tôi, những dự án kiểu này là cách tốt nhất để thu hút giới trẻ, các em có được kinh nghiệm học tập thực tế tại Nga. Mối quan tâm đến tiếng Việt cũng đang tăng lên ở Nga.

Hiện nay, khoảng 350 sinh viên đang học tiếng Việt trong khuôn khổ các chương trình nghiên cứu châu Á, quan hệ quốc tế và ngôn ngữ học tại 10 trường đại học Nga. Các mối quan hệ kết nghĩa Hà Nội-Moskva, Thành phố Hồ Chí Minh-Saint Petersburg, Thành phố Hồ Chí Minh-Vladivostok, Đà Nẵng-tỉnh Yaroslavl... đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường quan hệ nhân văn. Đối thoại này mở ra thêm nhiều cơ hội cho các dự án chung về giáo dục, văn hóa và giao lưu thanh niên.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Phó Thủ tướng!

Nguồn: Báo Nhân Dân










Address

Thôn An Kỳ, Xã Tịnh Khê
Quang Ngai

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when SAO VÀNG TỊNH KHÊ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share