03/09/2026
NGHỊ ĐỊNH SỐ 332/2026/NĐ-CP: TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH SẢN PHẨM, DỊCH VỤ AN NINH MẠNG
Nghị định số 332/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng được ban hành ngày 19/8/2026 và có hiệu lực từ chính ngày ban hành. Đây là văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật An ninh mạng năm 2025, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực an ninh mạng.
Nghị định gồm 04 chương, 22 điều, quy định cụ thể về sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; điều kiện kinh doanh; cấp, cấp đổi, cấp lại, thu hồi giấy phép kinh doanh; hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng và trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
1. Quy định cụ thể các loại sản phẩm an ninh mạng
Theo Điều 3 Nghị định số 332/2026/NĐ-CP, sản phẩm an ninh mạng được phân thành các nhóm chủ yếu sau:
Sản phẩm kiểm tra, đánh giá an ninh mạng là thiết bị phần cứng, phần mềm có chức năng hoặc được thiết kế để rà quét, kiểm tra, phân tích cấu hình, hiện trạng, dữ liệu nhật ký của hệ thống thông tin, thiết bị điện tử; phát hiện lỗ hổng, điểm yếu và đưa ra đánh giá rủi ro an ninh mạng.
Sản phẩm giám sát an ninh mạng là thiết bị phần cứng, phần mềm có chức năng giám sát, phân tích dữ liệu, địa chỉ mạng, lưu lượng mạng; thu thập, phân tích dữ liệu nhật ký theo thời gian thực; phát hiện và cảnh báo các sự kiện bất thường có nguy cơ gây mất an ninh mạng.
Sản phẩm chống tấn công, xâm nhập là thiết bị phần cứng, phần mềm có chức năng ngăn chặn hành vi tấn công, xâm nhập vào hệ thống thông tin.
Ngoài ra, Nghị định còn quy định nhóm sản phẩm an ninh mạng khác, gồm:
Sản phẩm bí mật thu thập thông tin;
Sản phẩm chế áp thông tin mạng;
Sản phẩm pháp y số, điều tra số;
Sản phẩm chế áp hệ thống mạng;
Sản phẩm che giấu địa chỉ IP.
Việc quy định cụ thể phạm vi sản phẩm an ninh mạng góp phần xác định rõ đối tượng chịu sự quản lý, tránh bỏ sót hoặc chồng lấn trong quá trình thực hiện pháp luật.
2. Các loại dịch vụ an ninh mạng thuộc diện quản lý
Theo Điều 4 Nghị định số 332/2026/NĐ-CP, dịch vụ an ninh mạng bao gồm:
Dịch vụ kiểm tra, đánh giá an ninh mạng;
Dịch vụ bảo mật thông tin không sử dụng mật mã dân sự;
Dịch vụ tư vấn an ninh mạng;
Dịch vụ giám sát an ninh mạng;
Dịch vụ ứng cứu sự cố an ninh mạng;
Dịch vụ khôi phục dữ liệu;
Dịch vụ phòng ngừa, chống tấn công mạng.
Bên cạnh đó, Nghị định còn quy định các dịch vụ khác như dịch vụ cung cấp nền tảng kết nối bảo vệ an ninh mạng; dịch vụ huấn luyện, diễn tập bảo vệ an ninh mạng; dịch vụ che giấu địa chỉ IP trên không gian mạng; dịch vụ săn tìm và báo cáo lỗ hổng bảo mật.
Những quy định này tạo cơ sở pháp lý để quản lý thống nhất các hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ có liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu và an ninh trên không gian mạng.
3. Kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng phải có giấy phép
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định về giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.
Theo Điều 5, tổ chức, doanh nghiệp khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng thuộc phạm vi quy định tại Điều 3 và Điều 4 phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng theo quy định.
Giấy phép có thời hạn 10 năm. Tổ chức, doanh nghiệp đề nghị cấp giấy phép phải nộp hồ sơ theo quy định và thực hiện nghĩa vụ phí, lệ phí theo pháp luật hiện hành.
Nghị định cũng quy định cụ thể hồ sơ đề nghị cấp đổi giấy phép. Trong trường hợp có thay đổi về tên tổ chức, doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật hoặc bổ sung, thay đổi sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, doanh nghiệp phải cung cấp tài liệu chứng minh đáp ứng các điều kiện tương ứng.
4. Quy định chặt chẽ về xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng
Đối với sản phẩm an ninh mạng thuộc Danh mục sản phẩm an ninh mạng xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, tổ chức, doanh nghiệp phải có giấy phép do Bộ Công an cấp.
Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu được cấp theo từng lô hàng và có thời hạn 02 năm. Tổ chức, doanh nghiệp đề nghị cấp giấy phép phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng và thực hiện nghĩa vụ lệ phí theo quy định.
Đáng chú ý, theo khoản 7 Điều 13, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị hợp lệ, Bộ Công an xem xét, cấp giấy phép; trường hợp từ chối cấp phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Quy định này góp phần tăng cường kiểm soát đối với những sản phẩm có khả năng tác động trực tiếp đến an ninh mạng, bảo đảm hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện đúng quy định pháp luật.
5. Những trường hợp bị thu hồi giấy phép
Theo Điều 14 Nghị định số 332/2026/NĐ-CP, giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng có thể bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp như:
Giả mạo hồ sơ hoặc cung cấp thông tin không đúng thực tế để đề nghị cấp giấy phép; giấy phép được cấp không đúng thẩm quyền;
Không đáp ứng điều kiện kinh doanh theo quy định, đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, yêu cầu khắc phục nhưng không khắc phục trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu;
Sau 06 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép mà tổ chức, doanh nghiệp không hoạt động;
Tổ chức, doanh nghiệp bị đình chỉ hoạt động, giải thể, phá sản hoặc bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi văn bản đăng ký thành lập;
Cho mượn, cho thuê, mua, bán giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.
Khi phát hiện trường hợp thuộc diện thu hồi trong quá trình kiểm tra, cơ quan kiểm tra lập biên bản và gửi Bộ Công an. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được biên bản, Bộ Công an xem xét, quyết định việc thu hồi giấy phép.
Đồng thời, khi Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng bị thu hồi thì giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng cũng không còn hiệu lực.
6. Ý nghĩa của Nghị định trong tăng cường bảo đảm an ninh mạng
Nghị định số 332/2026/NĐ-CP được ban hành trong bối cảnh hoạt động ứng dụng công nghệ số, phát triển hạ tầng số và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Việc Chính phủ ban hành Nghị định góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, đồng thời tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phát triển theo hướng chuyên nghiệp, đúng pháp luật.
Đối với các tổ chức, doanh nghiệp, việc nắm vững và thực hiện đúng các quy định của Nghị định là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm hoạt động kinh doanh hợp pháp, hạn chế rủi ro pháp lý, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ bảo vệ an ninh mạng.
Đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự, Nghị định tạo thêm cơ sở pháp lý để tăng cường quản lý các hoạt động có liên quan đến công cụ, giải pháp và dịch vụ an ninh mạng; qua đó góp phần phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn các nguy cơ, hành vi lợi dụng công nghệ cao xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Việc tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị định số 332/2026/NĐ-CP, cùng với các quy định của Luật An ninh mạng năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành, sẽ góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh, phục vụ hiệu quả quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước./.
Hữu Trường
Nguồn: Cờ đỏ Quảng Ngãi