06/08/2026
BÁM BIỂN GIỮA DÒNG LUẬN ĐIỆU "BÁN BIỂN"
KỲ I: SÓNG NGẦM
Từ diễn biến trên vùng biển Việt Nam, các thế lực thù địch lợi dụng, rêu rao luận điệu “bán biển”; xuyên tạc đường lối đối ngoại của ta, kích động xã hội bằng sự cố ngư dân gặp nạn, ô nhiễm môi trường biển và vi phạm khai thác IUU,... hòng phá hoại “thế trận lòng dân” trên biển.
----
Biển Đông có vị trí địa chính trị, địa kinh tế đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, là không gian sinh tồn, tuyến phòng thủ chiến lược và động lực phát triển bền vững của đất nước. Nhận thức rõ điều đó, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng những vấn đề liên quan đến biển đảo để tung ra luận điệu “bán biển”, xuyên tạc đường lối đối ngoại, kích động nhận thức xã hội từ sự cố ngư dân gặp nạn, môi trường biển bị tác động hoặc vi phạm quy định về chống khai thác IUU,... nhằm gây nhiễu loạn nhận thức xã hội, hiện thực hóa âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.
Mỗi khi Biển Đông có diễn biến mới, khác thường, trên nhiều nền tảng như Facebook, Youtube, X, Telegram,... nhanh chóng xuất hiện những dòng trạng thái, video bình luận mang tính chất kích động. Điển hình, trên các trang cá nhân, fanpage của Việt Tân, Nguyễn Văn Đài, VOA Tiếng Việt, RFA Tiếng Việt, Biển Đông News, Khối 8486,... luận điệu rằng “Việt Nam lại im lặng về vấn đề chủ quyền”, “Sự thật bị nhấn chìm ở Biển Đông”, “Biển đang bị đem ra đánh đổi”, “Việt Nam có nguy cơ bị phạt ‘thẻ đỏ’ nghề cá”,... Những luận điệu sai sự thật đó xuất phát từ âm mưu xuyên tạc và “lưỡi dao” chống phá; được các thế lực thù địch tung ra với tốc độ nhanh chóng; sử dụng ngôn ngữ giật gân, cảm xúc cực đoan và lối quy kết đầy ác ý nhằm dẫn dắt dư luận đi tới một kết luận đã được dựng sẵn: Việt Nam đang “bán biển”.
Đáng nói, các luận điệu ấy không xuất hiện rời rạc hay bột phát, mà là một hệ thống phương thức chống phá có chủ đích, được tính toán kỹ lưỡng về thời điểm, tâm lý xã hội và hiệu ứng truyền thông. Khác với trước đây, chúng không trực tiếp phủ nhận chủ quyền biển đảo của Việt Nam, mà chuyển sang công kích năng lực quản trị biển, phủ nhận đường lối đối ngoại, xuyên tạc chính sách phát triển kinh tế biển. Đây là dạng chiến tranh nhận thức mới, là những lát cắt mềm mỏng hơn nhưng nguy hiểm hơn, bởi mục đích không nhằm tranh luận đúng sai, mà là gieo rắc tâm lý hoài nghi của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.
Trong chuỗi luận điệu chống phá ấy, đường lối đối ngoại trên biển của Đảng ta luôn bị chúng khai thác như một “điểm nổ” để kích động tâm lý cực đoan. Mỗi khi Việt Nam giải quyết các vấn đề biển đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, ngay lập tức các thế lực thù địch quy chụp rằng đó là biểu hiện của sự “nhu nhược”, “im lặng”, hay “thỏa hiệp”. Chúng cố tình đánh đồng đường lối “ngoại giao cây tre” mềm dẻo, sự kiềm chế chiến lược với yếu hèn chính trị, với luận điệu chúng cho là “bán biển”. Chúng tìm cách đẩy dư luận vào trạng thái cảm xúc cực đoan với cái nhìn ảo ảnh rằng mọi phản ứng trên biển của Đảng và Nhà nước ta đều bị coi là “đầu hàng”.
Đó là kiểu lập luận phi lý nhưng dễ tác động tới tâm lý đám đông, có thể dẫn chứng “Sự kiện giàn khoan HD-981” năm 2014, hay “Sự kiện Bãi Tư Chính” năm 2019 là những ví dụ điển hình. Khi chủ quyền biển đảo bị đặt trong trạng thái nhạy cảm, lòng yêu nước nếu thiếu tỉnh táo rất dễ bị dẫn dắt bởi cảm xúc tức thời thay vì hành động đúng với chủ trương, đường lối của Đảng. Các thế lực thù địch hiểu rất rõ điều đó nên liên tục sử dụng những cụm từ có tính chất kích động mạnh như “chủ quyền bị xâm phạm”, “bị mất đảo”, “không dám phản ứng” nhằm kích hoạt tâm lý phẫn nộ; từ đó, chúng lái sang hoài nghi rồi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong các vấn đề biển đảo.
Tuy nhiên, luật pháp quốc tế và trách nhiệm của một quốc gia có chủ quyền không cho phép quốc gia đó giải quyết vấn đề bằng tâm lý tiêu cực của đám đông hay bằng việc kích động mâu thuẫn, xung đột. Đường lối nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì bảo vệ biển đảo bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Đó không phải biểu hiện của sự nhân nhượng, mà là bản lĩnh của một quốc gia hiểu rõ giá trị của ổn định, hòa bình và lợi ích chiến lược lâu dài.
Tiếp cận từ góc độ lịch sử, có thể thấy Việt Nam chưa bao giờ buông lỏng chủ quyền biển đảo. Hoạt động thực thi pháp luật trên biển được duy trì thường xuyên và hiệu quả; các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, Dân quân biển,... vẫn hiện diện liên tục trên các vùng biển trọng điểm; công tác đấu tranh ngoại giao, pháp lý, truyền thông đối ngoại vẫn được triển khai nhất quán, kiên định. Thế nhưng, những kết quả đó đều bị các đối tượng chống phá cố tình phớt lờ. Chúng chỉ lựa chọn những chi tiết có lợi cho việc kích động cảm xúc của nhân dân, rồi cắt ghép và suy diễn nhằm tạo dựng một bức tranh méo mó về tình hình biển đảo trên không gian mạng.
Không chỉ xuyên tạc hoạt động đối ngoại, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các vụ việc tàu cá Việt Nam bị nước ngoài xua đuổi, va chạm trên biển để công kích dư luận trong nước. Mỗi khi xảy ra một sự cố liên quan đến ngư dân, mạng xã hội lại xuất hiện hàng loạt nội dung quy kết rằng “tàu cá Việt Nam bị tàu nước ngoài đâm va”, “ngư dân bị bỏ mặc”, “không ai bảo vệ dân”, “Nhà nước chỉ đứng nhìn”. Nhiều video bị cắt xén, nhiều hình ảnh không rõ nguồn gốc được lan truyền với tốc độ cao nhằm đẩy dư luận vào trạng thái phẫn nộ đám đông.
Đáng chú ý, các thế lực thù địch luôn tìm cách che giấu bối cảnh pháp lý và tính chất phức tạp của hoạt động nghề cá trên biển. Chúng tuyệt đối không nhắc tới sự hiện diện và những nỗ lực của các lực lượng thực thi pháp luật trong cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ ngư dân, tuyên truyền pháp luật và bảo vệ ngư trường trong vùng biển Việt Nam. Chúng cũng không đề cập đến thực tế hàng nghìn lượt tàu cá vẫn yên tâm và kiên cường bám biển, thường xuyên được lực lượng chức năng thăm hỏi, động viên, hỗ trợ kịp thời giữa biển khơi; nhiều ngư dân được cứu sống trong điều kiện sóng to, gió lớn; nhiều tổ đội đoàn kết nghề cá vẫn đang được xây dựng như những “cột mốc sống” trên biển,...
Chung quy lại, âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch rất rõ ràng, đó là nhằm tạo ra khoảng cách giữa nhân dân - nhất là ngư dân - với Đảng, Nhà nước và các lực lượng chức năng; khoét sâu tâm lý bất mãn và từng bước phá vỡ “thế trận lòng dân” trên biển. Bởi một khi người dân mất niềm tin vào sự đồng hành của Đảng, Nhà nước, mọi chính sách bảo vệ biển đảo đều sẽ bị suy giảm hiệu quả ngay từ khi mới ban hành.
Không dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn kích động dư luận thông qua xuyên tạc mối quan hệ giữa môi trường biển và phát triển kinh tế biển. Từ những sự cố môi trường từng xảy ra trong quá khứ, chúng liên tục rêu rao luận điệu rằng Việt Nam đang “đánh đổi biển lấy tăng trưởng”, “bỏ mặc môi trường biển để phát triển kinh tế”, “bán tài nguyên biển cho lợi ích nhóm”,... Dưới cái nhìn méo mó của chúng, mọi chủ trương phát triển kinh tế biển, từ cảng biển, điện gió ngoài khơi, khai thác dầu khí cho tới nuôi biển công nghệ cao,... đều có thể bị bóp méo thành câu chuyện “bán biển để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế”.
Đây là kiểu xuyên tạc mới, có mức độ nguy hiểm cao bởi nó mang tính chất cố tình phủ nhận toàn bộ chủ trương, định hướng phát triển bền vững mà Việt Nam đang vươn tới. Trên thực tế, mục tiêu phát triển kinh tế biển xanh và bền vững đã trở thành chiến lược xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta; được đặt trong mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm an ninh quốc gia trên biển. Hệ thống pháp luật về tài nguyên, môi trường biển không ngừng được hoàn thiện; các tiêu chuẩn giám sát môi trường ngày càng siết chặt; nhiều dự án có nguy cơ ảnh hưởng môi trường đã bị rà soát, điều chỉnh hoặc dừng triển khai,...
Thực tế cho thấy, không một quốc gia ven biển nào có thể phát triển mà không phải đối diện với sức ép cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc né tránh thách thức, mà ở năng lực quản trị quốc gia, khả năng kiểm soát rủi ro và trách nhiệm chính trị của Nhà nước trong xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ môi trường biển. Thế nhưng, các thế lực thù địch lại cố tình phủ nhận toàn bộ những nỗ lực ấy của Việt Nam. Chúng lợi dụng những hạn chế cục bộ, những khó khăn mang tính nguyên tắc trong thực tiễn quản lý để quy chụp thành bản chất chế độ, từ đó biến các vấn đề quản trị công thành vũ khí xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.
Cùng với môi trường biển, vấn đề chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) cũng bị các thế lực thù địch biến thành “lưỡi dao xuyên tạc” hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta. Việc Ủy ban châu Âu (EC) áp dụng “thẻ vàng” đối với ngành thủy sản Việt Nam bị chúng bóp méo thành bằng chứng cho luận điệu rằng Việt Nam “không tuân thủ luật pháp quốc tế trong khai thác hải sản”, “không đủ năng lực quản lý nghề cá” hay “sắp bị EC áp thẻ đỏ”. Từ những luận điệu đó có thể thấy các thế lực thù địch đang cố tình đánh tráo khái niệm giữa những tồn tại trong quản lý nghề cá với bản chất của chế độ chính trị ở nước ta.
Chúng cố tình phủ nhận hàng loạt giải pháp quyết liệt nhằm tháo gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Việt Nam, từ hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường kiểm soát tàu cá, giám sát hành trình, xử lý vi phạm, cho đến hợp tác quốc tế về nghề cá bền vững,... Đây là quá trình chuyển đổi quản trị nghề cá phù hợp với xu thế quốc tế, đòi hỏi thời gian, nguồn lực và sự thay đổi nhận thức của cả hệ thống chính trị lẫn cộng đồng ngư dân. Nhưng các thế lực thù địch không quan tâm tới bản chất của quá trình đó. Điều chúng cần là tạo ra nhận thức sai lệch rằng Việt Nam đang “thất bại” trong quản trị biển nói chung và nghề cá nói riêng, từ đó tiếp tục khoét sâu, thổi bùng tâm lý hoài nghi trong xã hội.
Điểm chung của tất cả các luận điệu “bán biển” là thông qua các diễn biến thực tế, chúng sử dụng thủ đoạn cắt ghép, xuyên tạc thông tin, kích động tâm lý và từng bước biến không gian mạng thành mặt trận chống phá sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển đảo của Việt Nam. Ở đó, thông tin giả được lan truyền với tốc độ nhanh chóng; cảm xúc cực đoan dễ áp đảo lý trí; những phát ngôn thiếu kiểm chứng có thể tạo hiệu ứng sau vài giờ. Bởi vậy, điều đáng lo ngại nhất của luận điệu “bán biển” không nằm ở vài thông tin xuyên tạc đơn lẻ, mà ở âm mưu lâu dài, có chủ đích, nhằm bào mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và lực lượng chấp pháp trên biển. Khi niềm tin bị lung lay, “thế trận lòng dân” sẽ bị tổn thương từ gốc rễ; khi nhận thức xã hội bị thao túng bởi cảm xúc cực đoan thay vì sự thật khách quan, mọi nỗ lực bảo vệ biển đảo đều có nguy cơ đối diện với những thách thức nghiêm trọng ngay trong nội tại xã hội.
Những gì đang diễn ra cho thấy cuộc đấu tranh bảo vệ biển đảo hôm nay không chỉ hiện hữu nơi đầu sóng ngọn gió, mà còn diễn ra âm thầm nhưng quyết liệt trên mặt trận tư tưởng và không gian mạng. Đó không đơn thuần là cuộc đấu tranh chống thông tin sai lệch, mà là cuộc đấu tranh bảo vệ niềm tin chính trị, bảo vệ nhận thức xã hội và giữ vững tính đúng đắn trong đường lối của Đảng và Nhà nước. Nếu không nhận diện đầy đủ bản chất và âm mưu phía sau những luận điệu xuyên tạc ấy, hệ lụy sẽ không chỉ dừng lại ở một vài “cơn bão dư luận” trên mạng xã hội, mà nguy hiểm hơn, chúng từng bước bào mòn “thế trận lòng dân” - tấm khiên vững chãi trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
----
Bài dự thi Cuộc thi Chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong đoàn viên, thanh thiếu niên lần thứ Hai, năm 2026
✍️Nhóm tác giả:
✏️Nguyễn Bá Thanh - Biên tập viên - Phóng viên, Cổng Thông tin điện tử, Cục Chính trị Cảnh sát biển Việt Nam
✏️Phùng Văn Minh - Giảng viên, Bí thư Đoàn cơ sở Khoa Cơ khí, Bộ môn Cơ học vật rắn, Khoa Cơ khí, Học viện Kỹ thuật quân sự
✏️Đồng Minh Quang - Trợ lý, Bí thư Chi đoàn Cơ sở Khối Cơ quan, Phòng Xuất nhập khẩu 3, Tổng Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp Vạn Xuân (VAXUCO)
✏️Trương Công Linh - Chính trị viên phó, Phó Bí thư Đoàn cơ sở, Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn 84, Cục Tác chiến điện tử, Bộ Tổng Tham mưu.