10/09/2026
#8871
"Chào các bạn, hôm nay, nhân dịp Lễ Quốc Khánh ngày 2 tháng 9, mình muốn chia sẻ với mọi người một câu chuyện lịch sử về hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, từ những năm tháng bôn ba ở nước ngoài, quá trình hoạt động cách mạng, trở về Việt Nam cho đến ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và những chặng đường của Bác sau đó. Bài viết được lấy nguồn từ VTV (Phóng sự VTV4 - Nguyễn Ái Quốc - Ẩn số từ nước Pháp - VTV Đặc biệt) và một số tài liệu lịch sử khác...
I. Hành trình ra đi tìm đường cứu nước đến khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
I.1 Bản yêu sách chấn động và cuộc truy tìm của mật thám Pháp
Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Năm 1919, Hội nghị Hòa bình diễn ra tại lâu đài Versailles (nội ô Paris). 27 quốc gia thắng trận, trong đó có Pháp, đã tập hợp bàn thảo chia lợi nhuận và sắp đặt trật tự quốc tế mới. Ngay tại hội nghị, tuyên bố của Tổng thống Mỹ Wilson về việc thành lập liên minh các dân tộc để đảm bảo nền độc lập cho tất cả dân tộc trên thế giới, dù lớn dù nhỏ, đã thu hút sự quan tâm của người dân các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Trong bối cảnh này, ngày 18 tháng 6 năm 1919, một bài viết xuất hiện công khai trên báo Nhân đạo (L'Humanité) với bút danh Nguyễn Ái Quốc – cái tên An Nam còn quá xa lạ với hệ thống chính trị Pháp – đã gây xôn xao dư luận, đặc biệt là với những người Việt Nam tại Pháp luôn mang khát vọng giải phóng dân tộc: Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Hòa bình ở Versailles.
Với sự kiên định, công khai và hợp pháp, Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên mang vấn đề chính trị của Việt Nam ra quốc tế, đòi những quyền cơ bản chính đáng cho Việt Nam. Kể từ sau khi bản yêu sách được công bố, chính quyền Pháp và dư luận đã phải tự hỏi: ""Nguyễn Ái Quốc là ai?"". Ngay lập tức, cảnh sát đã triển khai một cuộc điều tra ráo riết để xác định nhân thân của người thanh niên bí ẩn này.
Điện mật 1781 ngày 25 tháng 6 năm 1919 của Thống đốc Nam Kỳ cho biết: ""Thưa ngài, đã có truyền đơn kích động gửi từ Paris vào ngày 18 tháng 6 tới nhiều tờ báo thuộc địa. Truyền đơn mang tiêu đề 'Yêu sách của người dân An Nam' và được ký tên, thay mặt những người An Nam yêu nước: Nguyễn Ái Quốc"". Các bản yêu sách đã được gửi tới các đại biểu tham dự Hội nghị Hòa bình, thành viên của Chính phủ Pháp và báo chí. Theo báo cáo, 6.000 bản yêu sách đã được in bằng chính tiền túi của Nguyễn Ái Quốc. Lo lắng nội dung bản yêu sách gây tác động lan rộng, ngày 5 tháng 7 năm 1919, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa yêu cầu thu thập thông tin về Nguyễn Ái Quốc.
Ngày 9 tháng 7 năm 1919, một báo cáo được gửi tới Giám đốc bộ phận Đông Dương, với những giải nghĩa về bí danh khiến chính quyền thực dân trăn trở: ""Phụ trách kiểm soát thư tín Đông Dương tại Marseille đã phân tích chữ ký dưới bản yêu sách, và đây thực chất là một bí danh. Nguyễn = Họ thường thấy ở An Nam. Ái = yêu, Quốc = Tổ quốc; hay nói cách khác là Nguyễn yêu nước"".
Báo cáo ngày 12 tháng 10 năm 1919 ghi rõ: ""Ông ta khăng khăng rằng tên mình là Nguyễn Ái Quốc, mặc dù chúng ta đã biết điều đó không đúng sự thật. Chính ông ta đã ký vào những truyền đơn tự trị cho Đông Dương, thư từ với Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Khánh Ký. Tình báo cho biết tại số 6 Villa des Gobelins, những người An Nam nhiều khi tụ họp đến 1 giờ sáng. Mật thám ta theo dõi người này sát sao, sớm muộn gì người này cũng sẽ thổ lộ danh tính thật của mình"".
I.2 Cuộc đối đầu trí tuệ giữa lòng Paris
Ngược dòng thời gian, để có mặt tại Pháp và thâm nhập vào phương Tây, ngày 2 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Thành xin làm việc ở tàu Đô đốc Latouche-Tréville của hãng vận tải Hợp nhất đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Marseille. Đến ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước chính thức lên đường với hai bàn tay trắng và cái tên mới: Văn Ba.
Ngay khi ""Nguyễn Ái Quốc"" xuất hiện công khai tại Pháp, theo lệnh của Bộ Thuộc địa và Bộ Nội vụ, các cơ quan Tổng nha Mật vụ, Tổng nha Cảnh sát, An ninh quốc gia Pháp đã vào cuộc không từ thủ đoạn nào. Hệ thống chính quyền thực dân lẫn bộ máy cai trị ở Đông Dương được huy động khẩn cấp. Nhiều mật thám gốc Việt được cài cắm, trà trộn vào nhóm người An Nam yêu nước để theo dõi. Cuối cùng, mạng lưới mật thám cũng tìm ra lý do Nguyễn Ái Quốc tới Pháp.
Trong một cuộc phỏng vấn tại Pháp, một nhà báo người Mỹ đã hỏi Nguyễn Ái Quốc:
– Vì sao ông tới Pháp?
– Để đòi những quyền tự do mà chúng tôi phải được hưởng.
– Chương trình của ông là gì?
– Luôn tiến về phía trước tùy theo sức mạnh của chúng tôi.
Nguyễn Ái Quốc không ngần ngại công khai mục đích tới Pháp. Mật báo ngày 17 tháng 11 năm 1919 cho biết Người khẳng định không có lý do gì để chống lại nước Pháp. Tại Pháp, Người và nhóm của mình được tự do viết lách, qua đó lật tẩy những hành động bóc lột của giới cầm quyền châu Âu đối với người dân An Nam, giúp Chính phủ Cộng hòa chỉnh sửa những sai trái do đại diện của họ ở Đông Dương gây ra.
Dù đã nắm được mục đích, cảnh sát Pháp vẫn nhiều lần triệu tập Người để trực tiếp thẩm vấn. Báo cáo ngày 17 tháng 9 năm 1920 ghi lại lời Người: ""Tên tôi là Nguyễn Ái Quốc, tôi tới Paris từ hơn một năm nay... Tôi đã sống tiết kiệm ở đây và làm công việc sửa ảnh. Sau đó tôi làm thợ vẽ thuê đồ giả cổ mỹ nghệ... Tôi chưa bao giờ đi lính"".
Báo cáo ngày 8 tháng 9 năm 1919 ghi nhận Nguyễn Ái Quốc đã tới Bộ Thuộc địa gặp ngài Albert Sarraut. Theo các hồ sơ lưu trữ, từ năm 1919 đến 1923 đã diễn ra 3 cuộc đối thoại với Bộ trưởng Bộ Thuộc địa bị mật thám ghi lại:
Nguyễn Ái Quốc: – Thưa ông Bộ trưởng, xin ông hãy xem nước Xiêm và nước Nhật. Hai nước này không có nền văn minh lâu đời hơn chúng tôi mà họ đã được đứng ở trong số các quốc gia độc lập. Nếu nước Pháp trả lại đất nước cho chúng tôi, ông sẽ thấy là chúng tôi sẽ biết tự cầm quyền.
Albert Sarraut: – Tôi chưa thể cho Đông Dương độc lập được. Lực lượng vũ trang của Đông Dương chưa có gì hết.
Ngày 24 tháng 6 năm 1922, trên báo Nhân đạo, với tiêu đề ""Lời than vãn của bà Trưng Trắc"", Nguyễn Ái Quốc viết đanh thép: ""Chúng ta đang sống dưới sự bảo hộ của nước Pháp. Bảo hộ có nghĩa là che chở. Nước Pháp đang để cho hàng triệu anh em chúng ta chết đói. Trong khi đó, hàng nghìn người khác bị đưa sang tiểu Á làm bia đỡ đạn... người ta che chở chúng ta như vậy đấy"".
I.3 Thẻ căn cước bí ẩn và sự kìm kẹp của chính quyền thực dân
Báo cáo của cảnh sát (1920-1921) miêu tả cuộc sống khốn khó của Người: Căn phòng tại quận 17 Paris vô cùng chật hẹp, dùng chung nhà vệ sinh công cộng, không lò sưởi, dột nát mỗi khi mưa. Châu Âu những ngày đông lạnh giá khiến Nguyễn Ái Quốc phải nhập viện. Dù vậy, Người không thoát khỏi sự dò hỏi của mật thám. Tại tòa nhà Pavillon Pasteur, mật thám đã tìm tới:
– Có phải ông là Nguyễn Ái Quốc? Tôi thường nghe nói đến lòng yêu nước của ông... Nhưng tại sao ông lại thích làm chính trị? Ông không sợ bị theo dõi, ông không sợ người ta có thể làm hại ông?
– Chẳng hề chi! Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này chúng ta sẽ chỉ chết có một lần. Tại sao lại sợ?
Pháp là quốc gia có hệ thống lưu trữ đồ sộ. Có ít nhất 9.000 trang tài liệu theo dõi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc. Gần đây, qua các hồ sơ lưu trữ được giải mật, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy tấm thẻ căn cước của Nguyễn Ái Quốc cấp ngày 4 tháng 9 năm 1919 (Hồ sơ số 250.028). Tấm thẻ dán ảnh, đóng dấu nổi, hầu như còn mới. Đây là tài liệu pháp lý sớm nhất mà bộ máy hành chính Pháp cấp cho Người.
Ông Laine, chủ hiệu nơi Nguyễn Ái Quốc làm việc, thấy Người bị theo dõi nên khuyên đi xin cấp lại thẻ căn cước. Khi đến sở cảnh sát, Người bị từ chối vì không có giấy tờ chứng minh. Ông Laine buộc lòng không thể nhận Người làm việc tiếp. Tấm thẻ căn cước cũ cũng bị cảnh sát thu hồi trong một lần thẩm vấn. Bằng cách này, chính quyền Pháp muốn chặn mọi đường mưu sinh của Nguyễn Ái Quốc.
Thậm chí, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa từng gửi điện mật cho Toàn quyền Đông Dương bàn ý định bắt giam Nguyễn Ái Quốc đưa về An Nam. Tuy nhiên, Toàn quyền Đông Dương e ngại điều này sẽ làm bùng nổ tình hình trong nước nên không chấp thuận.
Ngày 15 tháng 9 năm 1911, Nguyễn Tất Thành từng gửi thư xin vào học Trường Thuộc địa Paris nhưng bị từ chối. Trở lại Pháp sau những năm bôn ba, Người dành toàn bộ thời gian rảnh để tự học tại các thư viện. Vì quy định chỉ hỗ trợ sinh viên dưới 26 tuổi tiếp cận tư liệu hàn lâm, Người đã ghi trên căn cước năm sinh là 1894. Nhờ tự học, Người đọc luận cương của V.I. Lênin và tìm thấy con đường cứu nước.
I.4 Hành trình vạn dặm và những lần thoát hiểm ngoạn mục
Tháng 12 năm 1921, Đại hội Đảng Cộng sản Pháp lần thứ nhất họp tại Marseille. Nguyễn Ái Quốc là đại biểu quan trọng. Ngày 29 tháng 12, Người đề xuất thành lập một phong trào chống tư bản và kêu gọi tập hợp các nhóm màu da. Việc theo dõi Người càng trở nên cấp thiết. Cảnh sát rình rập ở các lối ra vào hội trường, nhưng nhờ sự hỗ trợ của các ủy viên Hội đồng thành phố Marseille dùng quyền ""bất khả xâm phạm"", Người đã thoát vòng vây trở về khách sạn an toàn.
Ngày 1 tháng 4 năm 1922, tờ báo Người cùng khổ (Le Paria) ra đời. Bất chấp khó khăn tài chính tột cùng (quỹ chỉ còn 150 franc) và sự cản trở của cảnh sát, Người vẫn cương quyết: ""Nếu tờ báo biến mất, sẽ tổn thất lớn cho tổ chức... Tờ báo có vai trò đặc biệt hơn lúc nào hết"". Trải qua 38 số báo, Le Paria đã thức tỉnh mạnh mẽ nhân dân các thuộc địa.
Đến giữa tháng 6 năm 1923, trong khi mật thám Pháp vẫn bủa lưới tại Paris, Người thực hiện cuộc ""hóa thân"" ngoạn mục. Tối 13 tháng 6, dưới vỏ bọc ""Chen Vang"", Người bí mật qua Đức, lấy thị thực tại Berlin và ngày 30 tháng 6 năm 1923 chính thức bước xuống cảng Petrograd (Liên Xô). Mật thám Pháp hoàn toàn mất dấu. ""Lênin của Đông Dương"" đã bắt đầu hành trình mới.
Dù vô cùng tiếc nuối vì không kịp diện kiến V.I. Lênin trước khi ông qua đời (1924), Nguyễn Ái Quốc đã viết bài ""Lênin và các dân tộc thuộc địa"" trên báo Sự thật (Pravda) để bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc.
I.5 Từ Liên Xô đến Quảng Châu – chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức
Sau khi đến Petrograd, Người tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vấn đề dân tộc, thuộc địa. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu trực tiếp xây dựng lực lượng cách mạng.
Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở các lớp huấn luyện chính trị nhằm đào tạo những thanh niên yêu nước. Những bài giảng của Người sau đó được tập hợp thành tác phẩm ""Đường Kách mệnh"" (1927). Đây là một trong những tài liệu then chốt, góp phần chuẩn bị trọn vẹn về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng.
I.6 Thành lập Đảng và những năm hoạt động quốc tế
Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Hương Cảng, dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người soạn thảo các văn kiện quan trọng, xác định nhiệm vụ trước hết của cách mạng là giải phóng dân tộc.
Tháng 6 năm 1931, Người bị cảnh sát Anh bắt tại Hong Kong dưới bí danh Tống Văn Sơ. Mật thám Pháp lập tức đòi dẫn độ để tử hình. Nhờ sự can thiệp của luật sư Frank Loseby và màn kịch ""Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao"", Người thoát hiểm thành công, bẽ mặt cả hai hệ thống mật thám Anh – Pháp. Sau khi được trả tự do vào năm 1933, Người tiếp tục hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế và âm thầm thúc đẩy cách mạng trong nước.
I.7 Trở về Việt Nam – trực tiếp lãnh đạo cách mạng
Ngày 28 tháng 1 năm 1941 là một cột mốc thiêng liêng: Nguyễn Ái Quốc chính thức đặt chân về nước tại cột mốc 108 (Pác Bó, Cao Bằng) sau trọn vẹn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Cảm xúc trào dâng, Người cúi xuống hôn lên nắm đất quê hương.
Từ đây, Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5 năm 1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và gấp rút xây dựng căn cứ địa cách mạng.
I.8 Bị bắt tại Trung Quốc và ""Nhật ký trong tù""
Tháng 8 năm 1942, với tên gọi mới là Hồ Chí Minh, Người lên đường sang Trung Quốc để vận động sự viện trợ của quốc tế cho cách mạng. Tuy nhiên, ngày 29 tháng 8 năm 1942, khi vừa đến Túc Vinh (Quảng Tây), Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giữ vô cớ vì nghi ngờ giấy tờ không hợp lệ.
Bắt đầu từ đây là chuỗi ngày đọa đày khủng khiếp ròng rã 13 tháng trời. Một vị lãnh tụ tuổi đã ngoài 50, sức khỏe yếu, phải chịu cảnh tay bị trói chặt, cổ mang gông nặng, chân lê bước rớm máu qua đèo cao suối sâu dưới thời tiết khắc nghiệt. Người bị giải đi giải lại qua 13 huyện, giam cầm tại gần 30 nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Đêm xuống, chân bị cùm vào ván cứng, rệp cắn, muỗi đốt, ghẻ lở, đói khát và bệnh tật bủa vây vắt kiệt sức lực.
Thế nhưng, chính trong chốn địa ngục trần gian ấy, tập thơ ""Ngục trung nhật ký"" hay ta còn biết với cái tên ""Nhật ký trong tù"" (gồm 133 bài thơ chữ Hán) đã ra đời. Tác phẩm không chỉ là một bản án sắc bén tố cáo chế độ nhà tù tàn bạo của Tưởng Giới Thạch, mà còn rực sáng chất thép của một người chiến sĩ cộng sản. Dù thể xác bị kìm kẹp, tinh thần của Bác vẫn hoàn toàn tự do, ung dung hướng về thiên nhiên và nhịp sống của nhân dân:
Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao
Ý chí gang thép và sự lạc quan cách mạng vĩ đại ấy đã giúp Người vượt qua mọi nhục hình. Bằng nghị lực phi thường và những hoạt động đấu tranh chính trị khôn khéo của các tổ chức cách mạng bên ngoài, đến ngày 10 tháng 9 năm 1943, chính quyền Tưởng Giới Thạch buộc phải trả tự do cho Người. Vượt qua cửa ngõ tử thần, Hồ Chí Minh lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng, đón chờ thời cơ.
I.9 Từ Cao Bằng đến Tân Trào – chớp thời cơ lịch sử
Bước sang năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến mau lẹ. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng thực dân Pháp trên toàn Đông Dương. Ngay lập tức, Đảng ta đã ra bản chỉ thị lịch sử ""Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"", phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trên toàn quốc.
Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang), biến nơi đây thành trung tâm chỉ đạo. Đến tháng 8 năm 1945, thời cơ ""ngàn năm có một"" đã điểm. Dù đang ốm rất nặng, lúc tỉnh lúc mê tại lán Nà Nưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn căn dặn đại tướng Võ Nguyên Giáp bằng một ý chí sắt đá: ""Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"".
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân Đại hội Tân Trào được triệu tập khẩn trương. Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đặc biệt, Đại hội đã quyết định lấy lá cờ đỏ sao vàng làm Quốc kỳ và bài Tiến quân ca làm Quốc ca. Lệnh Tổng khởi nghĩa lập tức được truyền đi khắp nơi.
Dưới sự vạch đường chỉ lối của Đảng và Bác Hồ, cả dân tộc muôn người như một đã vùng lên tước vũ khí của quân Nhật và lật đổ chính quyền bù nhìn. Khởi nghĩa giành thắng lợi vô cùng nhanh chóng ở Hà Nội (ngày 19 tháng 8), Huế (ngày 23 tháng 8) và Sài Gòn (ngày 25 tháng 8). Sự kiện chấn động nhất diễn ra tại Huế vào chiều ngày 30 tháng 8 năm 1945. Vua Bảo Đại – vị vua cuối cùng của triều Nguyễn – đã đọc chiếu thoái vị, trao lại ấn vàng ""Hoàng đế chi bảo"" và thanh gươm nạm ngọc với lời tuyên bố nổi tiếng: ""Trẫm thà làm dân một nước độc lập, hơn làm vua một nước nô lệ"". Chỉ trong vòng 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công vang dội trên cả nước, đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm và ách thống trị của phát xít Nhật.
I.10 Viết Tuyên ngôn Độc lập và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Hồ Chí Minh trở về Hà Nội. Tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Người khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.
Khoảnh khắc viên mãn và vĩ đại nhất đã đến vào chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tại Quảng trường Ba Đình rực nắng, trước hơn 50 vạn đồng bào, vị lãnh tụ gầy gò với bộ quần áo kaki giản dị đã dõng dạc đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Giữa chừng, Người dừng lại hỏi thân tình: ""Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?"". Một tiếng ""Có"" vang rền như sấm dậy của muôn vạn trái tim, thể hiện sự gắn bó máu thịt tuyệt đối giữa lãnh tụ và nhân dân. Bản Tuyên ngôn khẳng định đanh thép với toàn thế giới: ""Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập..."". Đó chính là câu trả lời vang dội nhất cho mọi cuộc săn lùng của các hệ thống mật thám toàn cầu trong suốt mấy thập kỷ.
II. Sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh (Mình tái bản lần thứ II ở dưới phần bình luận #8793 nha)
III. Nước Pháp long trọng đón tiếp chủ tịch Hồ Chí Minh
Mùa hè năm 1946, báo chí Pháp đồng loạt đăng tin về một sự kiện vô tiền khoáng hậu: Nước Pháp long trọng đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn 25 năm trước, Người là cái g*i trong mắt thực dân Pháp, bị theo dõi và săn đuổi tột cùng. 25 năm sau, họ buộc phải nghênh đón Người bằng những nghi thức trang trọng nhất dành cho một nguyên thủ quốc gia.
""Cả cuộc đời tôi chiến đấu chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp nhưng tôi luôn ngưỡng mộ và yêu mến nhân dân Pháp. Tôi mong muốn rằng quan hệ hợp tác giữa hai nước sẽ được xây dựng trên cơ sở thủy chung, hữu nghị và tôn trọng tự do...""
Lời phát biểu ấy tại Pháp đã khép lại một chặng đường vĩ đại, minh chứng cho tầm vóc của một danh nhân văn hóa, một vị anh hùng giải phóng dân tộc đã làm thay đổi hoàn toàn dòng chảy lịch sử Việt Nam.
IV. Chặng đường 24 năm lãnh đạo đất nước (1945–1969) và những ngày tháng cuối đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1969 là một chặng đường lịch sử đặc biệt trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân vượt qua nhiều thử thách lớn: bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954; sau đó xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước.
Trong những năm cuối đời, dù tuổi cao và sức khỏe ngày càng suy giảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm đến tình hình đất nước, đặc biệt là đồng bào và chiến sĩ miền Nam. Những ngày tháng 8 năm 1969, khi đang lâm bệnh, Người vẫn theo dõi tình hình chiến trường và thường hỏi thăm tin tức miền Nam.
Ngày 29 tháng 8 năm 1969, Bác còn dự định sẽ ra dự Lễ Quốc khánh trong khoảng mười đến mười lăm phút. Ngày 1 tháng 9, sức khỏe của Người có lúc tỉnh táo hơn và Người vẫn quan tâm đến các hoạt động nhân dịp Quốc khánh.
Nhưng sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969, tình trạng sức khỏe của Người đột ngột chuyển biến rất nặng. Khoảng 9 giờ, Bác bị một cơn đau tim nghiêm trọng. Các giáo sư, bác sĩ Việt Nam và Trung Quốc đã khẩn trương tiến hành cấp cứu. Sau nhiều nỗ lực cứu chữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi.
Điều đặc biệt và cũng đầy xúc động là Người ra đi đúng vào ngày Quốc khánh, ngày mà 24 năm trước Người đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vì hoàn cảnh lịch sử đặc biệt lúc bấy giờ, để ngày mất của Người không trùng với ngày hội lớn của dân tộc, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III quyết định công bố Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần vào ngày 3 tháng 9 năm 1969.
Đến ngày 19 tháng 8 năm 1989, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI ban hành Thông báo số 151-TB/TW, công bố lại những nội dung liên quan đến Di chúc và xác định chính xác ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời là ngày 2 tháng 9 năm 1969.
Ngày 2 tháng 9 vì thế mang một ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử Việt Nam: đó vừa là ngày Quốc khánh, gắn với thời khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, vừa là ngày Người vĩnh biệt dân tộc vào năm 1969. Một ngày vốn là biểu tượng của niềm vui độc lập cũng trở thành ngày tưởng niệm một vị lãnh tụ đã dành trọn cuộc đời cho dân tộc.
Sự trùng hợp lịch sử ấy khiến ngày 2 tháng 9 mang trong mình hai sắc thái tưởng như đối lập: niềm vui của ngày độc lập và nỗi đau của ngày Bác Hồ đi xa. Nhưng trên hết, đó cũng là dịp để các thế hệ người Việt Nam tưởng nhớ những cống hiến của Người và tiếp tục thực hiện những điều Người căn dặn trong Di chúc.
Nguồn tài liệu tham khảo:
Phóng sự: Nguyễn Ái Quốc – Ẩn số từ nước Pháp (VTV4).
Phóng sự: Nhà báo Nguyễn Ái Quốc trong hồ sơ mật thám Pháp
Internet
Các tài liệu lưu trữ lịch sử liên quan.
(Bài viết được biên tập và tổng hợp lại với mục đích chia sẻ kiến thức lịch sử phi thương mại, tôn trọng tuyệt đối bản quyền của Đài Truyền hình Việt Nam - VTV và các tác giả).
Một số sự kiện và tư liệu lịch sử trong bài viết được chắt lọc từ các phim tài liệu của VTV cùng một số nguồn sử liệu chính thống khác. Nội dung này được viết lại hoàn toàn nhằm mục đích giáo dục, lan tỏa tình yêu lịch sử đến cộng đồng nhân ngày Quốc khánh, không mang yếu tố thương mại hay trục lợi cá nhân."