Hội Cựu Chiến binh xã Vạn Phú, tỉnh Thái Nguyên

Hội Cựu Chiến binh xã Vạn Phú, tỉnh Thái Nguyên Trang thông tin tuyên truyền, giải đáp chế độ chính sách cho hội viên Cựu chiến binh

24/08/2026

Giữ vững "Bốn kiên định" trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Bài 3: Kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng (tiếp theo và hết)

Tác giả: NGUYỄN QUANG CHUNG - ĐỖ THỊ MINH NGUYỆT - NGUYỄN THỊ GIANG

“Bốn kiên định” là kim chỉ nam để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giữ vững niềm tin, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm sự thống nhất giữa ý chí chính trị với hành động thực tiễn. Giữ vững “Bốn kiên định” cần được cụ thể hóa bằng những giải pháp đồng bộ, toàn diện, có tính chiến lược, nhằm củng cố ổn định chính trị, tạo nền tảng để Việt Nam chủ động thích ứng với những biến đổi của thời đại.

Nâng cao bản lĩnh chính trị, vai trò và tinh thần chiến đấu của cấp ủy, tổ chức Đảng

Giữ vững “Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng trong tình hình mới sẽ giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân miễn nhiễm với các thông tin độc hại trên không gian mạng, đồng thời củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta và nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Trước hết, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, vai trò gương mẫu và tinh thần chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và cán bộ cấp chiến lược. Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những tác động ngày càng phức tạp của chiến tranh nhận thức và các quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự vững vàng về lập trường tư tưởng, có năng lực nhận diện đúng - sai, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng và giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống. Đồng thời, cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong lời nói, hành động, tinh thần dám nghĩ, dám đấu tranh, dám chịu trách nhiệm, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Mặt khác, trong bối cảnh bùng nổ thông tin như hiện nay, các cấp ủy Đảng cần lãnh đạo hiệu quả công tác tuyên truyền, báo chí, truyền thông; quản lý tốt an ninh mạng; bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, sâu rộng, các cấp, các ngành, địa phương cần đặc biệt chú trọng công tác đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ trên không gian mạng. Không gian mạng, đặc biệt là các nền tảng mạng xã hội, phải trở thành môi trường lan tỏa những nét đẹp, những “điều hay lẽ phải” trong cuộc sống, kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi những “thói hư tật xấu”.

Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, đặt nhân dân ở vị trí trung tâm trong mọi quyết sách phát triển và trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đây không chỉ là nguyên tắc chính trị nhất quán của Đảng mà còn là nền tảng tạo nên sức mạnh nội sinh, củng cố “thế trận lòng dân” trong bối cảnh chiến tranh nhận thức và các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng chính đáng và nhu cầu thực tiễn của nhân dân; lấy chất lượng cuộc sống, mức độ thụ hưởng và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo quan trọng nhất của hiệu quả quản trị quốc gia.

Đồng thời, cần phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ, vai trò phản biện xã hội và cơ chế giám sát của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, hệ thống chính trị cũng như lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Khi nhân dân thực sự được lắng nghe, được bảo vệ quyền lợi và được tham gia vào quá trình quản trị đất nước, niềm tin xã hội sẽ được củng cố bền vững. Đó chính là cơ sở chính trị - xã hội quan trọng nhất để tăng cường sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, giữ vững ổn định quốc gia và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Bên cạnh đó, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng “thế trận lòng dân” nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ lợi ích của nhân dân, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo. Đây không chỉ là nền tảng của ổn định chính trị, mà còn là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn để bảo vệ Tổ quốc khi dân tin Đảng, đồng lòng cùng Nhà nước.

Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quốc phòng, an ninh

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, cần giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh. Đảng, Nhà nước tập trung xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành, kiên định các nguyên tắc của Đảng, bảo đảm sức mạnh chiến đấu, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Đối với lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, để hiện thực hóa “Bốn kiên định” và có đóng góp quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chính sách quốc phòng “Bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách “Bốn không” giúp Việt Nam giữ vững thế cân bằng chiến lược, không để đất nước bị cuốn vào đối đầu địa chính trị hay phụ thuộc vào bất kỳ liên minh quân sự nào, qua đó bảo vệ tối đa lợi ích dân tộc. Trong bối cảnh mới, chính sách “Bốn không” chính là nền tảng quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng.

Kiên trì thực hiện “Bốn kiên định” và đường lối đối ngoại quốc phòng “Bốn không” không chỉ thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược và tính nhất quán của Đảng, Nhà nước ta, mà còn là nền tảng để Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững vai trò lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. “Bốn kiên định” giúp Quân đội luôn giữ vững bản chất cách mạng, mục tiêu chiến đấu và tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; trong khi “Bốn không” thể hiện đường lối quốc phòng độc lập, tự chủ, hòa bình, tự vệ, tránh để đất nước bị cuốn vào cạnh tranh địa chính trị hoặc đối đầu quân sự. Đây thực chất là sự kết hợp giữa sức mạnh chính trị với tư duy an ninh hiện đại, nhằm tạo thế ổn định chiến lược lâu dài cho quốc gia.

Trong giai đoạn phát triển mới, Quân đội không chỉ thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, mà còn tiếp tục phát huy vai trò đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Thông qua tham gia xây dựng hạ tầng chiến lược, phát triển vùng sâu, vùng xa, chuyển đổi số, công nghiệp quốc phòng công nghệ cao, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống thiên tai và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, Quân đội đang trực tiếp góp phần củng cố nội lực quốc gia. Trong điều kiện đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong những năm tới, vai trò của Quân đội càng không chỉ nằm ở bảo vệ thành quả phát triển, mà còn tham gia kiến tạo môi trường ổn định, an toàn và bền vững để phát triển nhanh, hiện đại và hùng cường.

Nâng cao “sức đề kháng văn hóa”, hình thành “màng lọc tư tưởng” tự nhiên

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng tiếp theo các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng thực hiện là xây dựng và nâng cao “sức đề kháng văn hóa”, hình thành “màng lọc tư tưởng” tự nhiên cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trên không gian mạng, nhất là thế hệ trẻ. Trong cuộc chiến chống lại các thông tin xấu độc, nếu các giải pháp kỹ thuật và pháp lý là “lá chắn ngoại lực”, thì sức đề kháng văn hóa chính là “hệ miễn dịch nội sinh” quyết định sự vững vàng của mỗi cá nhân. Nó thể hiện ở sự tỉnh táo, không vội vã tin theo, không tán phát những thông tin chưa kiểm chứng, biết cách dùng lý lẽ sắc bén để phản bác các quan điểm sai trái theo tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực”. Sức đề kháng văn hóa không tự nhiên mà có, nó phải được bồi đắp từ sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử dân tộc, giá trị văn hóa và bản chất của chế độ.

Khi mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và nhận diện rõ những thành quả vĩ đại của cách mạng, họ sẽ tự khắc có khả năng “miễn nhiễm” trước những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận quá khứ của các thế lực thù địch.

Trong bối cảnh chiến tranh nhận thức ngày càng tinh vi, nhiệm vụ then chốt là phải “xây dựng niềm tin” trong nhân dân. Niềm tin xã hội không được tạo ra chủ yếu bằng khẩu hiệu hay tuyên truyền một chiều, mà được hình thành từ những trải nghiệm thực tiễn, từ hiệu quả quản trị quốc gia, từ công bằng xã hội và từ phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi nhân dân “thấy lợi ích thật” trong đời sống, thấy sự phát triển gắn với quyền lợi và cơ hội của mình; “thấy thành quả thật” qua hạ tầng, giáo dục, y tế, an sinh và môi trường xã hội ổn định; đặc biệt “thấy đạo đức công vụ thật” qua tinh thần trách nhiệm, sự liêm chính, tận tụy và gần dân của cán bộ, thì niềm tin chính trị sẽ được củng cố bền vững từ gốc rễ. Ngược lại, mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng, vô cảm hay nói không đi đôi với làm đều trực tiếp làm suy giảm sức thuyết phục của hệ tư tưởng. Vì vậy, xây dựng niềm tin thực chất chính là xây dựng nền tảng chính trị - xã hội vững chắc để bảo vệ Đảng và chế độ trong thời đại số.

Trên cơ sở xác định các giải pháp, vấn đề tiếp theo là xem xét, triển khai theo từng giai đoạn tương ứng với mức độ tập trung, ưu tiên để ứng phó với những thách thức ngắn hạn, trung hạn và lâu dài. Trước hết, về ngắn hạn, cần ưu tiên đấu tranh trên không gian mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; củng cố niềm tin xã hội và giữ vững ổn định chính trị. Đối với trung hạn, cần tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới giáo dục chính trị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân. Về lâu dài, kiên định đường lối đổi mới, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng con người Việt Nam và củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nền tảng đưa đất nước phát triển giàu mạnh, thịnh vượng.

“Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng là nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh tổng hợp của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược, chiến tranh nhận thức và các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, việc kiên định là cơ sở giữ vững ổn định chính trị, định hướng phát triển và bản sắc chính trị Việt Nam. Đây không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là yêu cầu chiến lược trong nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm sự thống nhất ý chí, hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. “Bốn kiên định” thực chất là “tấm khiên tư tưởng” vững chắc để củng cố niềm tin, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

___________________________

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật (2023), Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới qua đấu tranh chính luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII.

5. Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV.

6. Quy định số 19-QĐ/TW ngày 8-4-2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.

Báo QĐND

Ảnh: Thủ trưởng Ban giám hiệu Trường Sĩ quan Lục quân 1 trao bằng tốt nghiệp cho học viên Khóa 90 đào tạo trình độ đại học.


11/08/2026

Chấn chỉnh biểu hiện lệch chuẩn trên mạng xã hội

Những video clip, phiên livestream mang nội dung phản cảm, thóa mạ, công kích cá nhân, lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng, kích động bạo lực đang thu hút lượng lớn người xem, theo dõi... Khi sự ồn ào được nuôi dưỡng bằng lượt xem, mức độ tương tác, cơ hội kiếm tiền hay quy đổi thành lợi ích không chính đáng; thậm chí cả cá nhân có hành vi bất hảo lại được tung hô như “thần tượng”, ranh giới giữa đúng-sai, chuẩn mực-lệch chuẩn có nguy cơ bị xóa nhòa trên không gian mạng. Hệ lụy gây ra cho xã hội sẽ rất khó lường nếu không được chấn chỉnh kịp thời.

Nguy cơ xuống cấp chuẩn mực đạo đức

Tình trạng những sản phẩm truyền thông thiếu lành mạnh lan tỏa nhanh chóng trên mạng xã hội khiến dư luận hết sức lo ngại. Không chỉ dừng lại ở việc theo dõi, một bộ phận khán giả còn sẵn sàng chi tiền “donate” (quyên góp), như một cách cổ xúy để những clip tương tự tiếp tục ra đời. Từ đây hình thành một “công thức” quen thuộc trên các nền tảng: càng gây sốc, càng dễ nổi tiếng; càng nổi tiếng, càng dễ kiếm tiền. Sự chú ý của công chúng trở thành “nguồn tài nguyên” để khai thác, mang lại lợi nhuận và góp phần khuếch đại những hành vi lệch chuẩn.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thắm, giảng viên ngành truyền thông chuyên nghiệp, Đại học RMIT Việt Nam, lý giải cơ chế này nằm trong mô hình “kinh tế chú ý”. Các nền tảng số được thiết kế để ưu tiên những sản phẩm giữ chân người dùng lâu hơn và tạo nhiều tương tác. Trong cơ chế ấy, thuật toán không phân biệt rạch ròi giữa tương tác tích cực hay tiêu cực; điều được coi trọng là mức độ lan truyền. Vì vậy, những nội dung gây tranh cãi, kích thích cảm xúc mạnh thường chiếm lợi thế vượt trội.

Thượng tá, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu (Báo Công an nhân dân) phân tích, trong tâm lý học hành vi, phần thưởng luôn có tác dụng củng cố hành động. Khi một hành động sai trái liên tục mang lại lượt xem, tiền bạc và danh tiếng, người thực hiện sẽ có xu hướng coi đó là con đường đúng đắn để đạt được thành công. Họ không còn đánh giá việc mình làm bằng chuẩn mực đạo đức hay pháp luật, mà bằng những con số hiển thị trên màn hình điện thoại.

Giám đốc điều hành Công ty cổ phần Công nghệ và Truyền hình 4.0 Nguyễn Ngọc Tuấn cảnh báo đang hình thành một “nền kinh tế của sự phẫn nộ”, khi livestream càng gây sốc, càng cực đoan thì càng thu hút lượt xem, bình luận và doanh thu.

Tác động của những sản phẩm lệch chuẩn không dừng ở cảm giác khó chịu, phản cảm nhất thời; nguy cơ lớn hơn nằm ở sự xói mòn các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị xã hội. Có đông người theo dõi, chia sẻ, bình luận khiến những người tạo ra nội dung phản cảm ngộ nhận rằng mình đang tạo ra giá trị, từ đó ảo tưởng về sức ảnh hưởng của bản thân. Sự xuất hiện của các “giang hồ mạng” thời gian qua, nổi tiếng nhờ những phát ngôn gây sốc, tính cách ngông nghênh, khoe tiền bạc, phô trương sức mạnh cơ bắp phần nào minh chứng cho điều đó. Hệ quả là những cách hành xử thiếu chuẩn mực có thể bị “bình thường hóa”: lời lẽ thô tục được xem là cá tính, thái độ gây hấn được tung hô là bản lĩnh.

Không chỉ tác động tiêu cực đến phạm trù đạo đức, việc đăng tải nội dung công kích, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác trên mạng xã hội còn trực tiếp vi phạm quy định pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Một số nhân vật “nổi tiếng” theo cách này đã bị xử lý theo quy định pháp luật. Đây có thể xem là lời cảnh báo nghiêm khắc dành cho những người sáng tạo nội dung số.

Ở tầm vĩ mô, khi những sản phẩm giật gân liên tục chiếm ưu thế, môi trường số có nguy cơ bị “lệch trục”. Các giá trị tích cực, nhân văn, truyền cảm hứng dần bị lấn át, khó cạnh tranh về độ lan tỏa. Một hệ sinh thái thông tin thiếu cân bằng như vậy sẽ ảnh hưởng lâu dài đến đời sống xã hội, tác động tiêu cực đến nhận thức của giới trẻ. Việc thường xuyên tiếp xúc với “giang hồ mạng” có lối hành xử ngông cuồng, vô lối khiến một bộ phận thanh thiếu niên lầm tưởng rằng đó là “đường tắt” để nhanh chóng đạt được danh tiếng và thành công. Việc bắt chước những “thần tượng giang hồ mạng” như vậy kéo theo sự xuống cấp về chuẩn mực đạo đức, gia tăng nguy cơ bạo lực và tâm lý coi thường pháp luật.

Nâng cao ý thức người dùng

Để ngăn chặn tình trạng lệch chuẩn “lên ngôi”, các chuyên gia cho rằng, trước hết cần nhìn nhận rõ trách nhiệm của các nền tảng công nghệ. Do thuật toán hiện được thiết kế nhằm tối đa hóa thời gian sử dụng, nếu thiếu cơ chế kiểm soát hiệu quả, nó sẽ vô tình ưu tiên những nội dung gây tranh cãi. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp vi phạm chỉ bị xử lý sau khi đã thu hút lượng lớn người xem, chia sẻ, điều này cho thấy cơ chế hậu kiểm của các nền tảng còn chậm.

Vì vậy, các nền tảng cần xây dựng cơ chế “phản ứng nhanh”: gỡ bỏ nội dung có dấu hiệu vu khống, xúc phạm cá nhân, kích động bạo lực; chủ động hạn chế đề xuất, tạm dừng kiếm tiền đối với tài khoản vi phạm hoặc livestream có nguy cơ cao... Song song đó, các cơ quan chức năng cần xử lý nghiêm khắc, có tính răn đe đối với các trường hợp vi phạm, qua đó khẳng định một nguyên tắc nhất quán: không có “lối tắt” nào dẫn đến thành công ngoài sự nỗ lực chân chính và việc bất chấp chuẩn mực, pháp luật sẽ phải trả giá.

Tuy nhiên, chế tài chỉ là một phần của giải pháp. Tiến sĩ Lê Thị Quỳnh Nga, giảng viên Trường đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) lưu ý rằng, cùng với chế tài và sự vào cuộc của các nền tảng, điều quan trọng hơn là xây dựng “sức đề kháng số” cho giới trẻ, bởi mạng xã hội tác động mạnh đến nhận thức, cảm xúc và hành vi người dùng. Ở đây, vai trò của gia đình, nhà trường rất quan trọng, mang tính định hướng, kiến tạo bản lĩnh cho thế hệ trẻ.

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu cho rằng, gia đình, nhà trường và xã hội phải cùng nhau kiến tạo những hình mẫu tích cực, giúp người trẻ hiểu rằng thành công thật sự không được đo bằng số lượt theo dõi hay những phút giây nổi tiếng nhất thời, mà bằng tri thức, nhân cách, lao động và trách nhiệm với cộng đồng. Khi những giá trị tốt đẹp được chuyển tải bằng ngôn ngữ gần gũi, sinh động, chúng hoàn toàn có thể cạnh tranh về mức độ thu hút, thay vì lép vế trước những sản phẩm giật gân.

Mạng xã hội không tự sinh ra nội dung mà phản chiếu lựa chọn của cộng đồng. Mỗi lượt xem, lượt thích, lượt chia sẻ đều góp phần định hình xu hướng thông tin. Khi người dùng vẫn tò mò theo dõi thì những sản phẩm lệch chuẩn vẫn còn “đất sống”. Ngược lại, khi công chúng chủ động quay lưng với sự phản cảm, đồng thời dành sự quan tâm cho những giá trị tích cực, cán cân chú ý sẽ dần thay đổi. Đây không phải là câu chuyện riêng của cơ quan quản lý hay các nền tảng công nghệ, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Ngăn chặn các biểu hiện lệch chuẩn “chiếm sóng” không chỉ là yêu cầu cấp bách hiện nay, mà còn là điều kiện để xây dựng một môi trường số văn minh, nơi những giá trị tử tế, tri thức và sáng tạo được đặt đúng vị trí xứng đáng.

THÀNH NAM

Báo Nhân dân

Cơ quan chức năng xử lý cá nhân có hành vi phát ngôn lệch chuẩn trên không gian mạng. (Ảnh: Cơ quan chức năng cung cấp)


11/08/2026

Tạo chuyển biến thực chất trong học tập và thực hành theo Bác - Bài 2: Giải quyết việc khó

Tác giả: Nhóm phóng viên

Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và không ít khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13-7-2026 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" (Chỉ thị 07) đặt ra yêu cầu vận dụng tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh vào giải quyết những vấn đề của thực tiễn, biến việc học và thực hành theo Bác thành động lực nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ và khơi thông những điểm nghẽn trong phát triển.

Thực hành phương pháp của Bác

Điều làm nên giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nằm ở những quan điểm về đạo đức cách mạng hay tinh thần hết lòng vì nước, vì dân, mà còn ở một phương pháp tư duy và hành động luôn bắt đầu từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan và hướng tới hiệu quả rõ rệt. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ lựa chọn con đường theo khuôn mẫu có sẵn. Mỗi quyết sách của Người đều được hình thành từ sự khảo sát thực tiễn, lắng nghe nhân dân, tổng kết kinh nghiệm và lựa chọn cách làm phù hợp nhất với điều kiện của đất nước trong từng thời kỳ.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước đang giải quyết nhiều vấn đề, từ xây dựng thể chế phát triển, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đến hội nhập quốc tế sâu rộng. Mỗi lĩnh vực đều xuất hiện những yêu cầu mới, những bài toán mới và cả những khó khăn chưa từng có tiền lệ. Trong bối cảnh ấy, điều cần là một phương pháp tư duy đúng để nhận diện vấn đề, lựa chọn hướng đi và tổ chức thực hiện hiệu quả. Đó cũng chính là giá trị lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điểm nổi bật trong phương pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn lấy thực tiễn làm điểm xuất phát và lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Những chỉ dẫn đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị, bởi trong bất kỳ lĩnh vực nào, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện, nếu không xuất phát từ thực tiễn thì rất khó tìm được lời giải đúng.

Chính vì vậy, Chỉ thị 07 nhấn mạnh phương pháp làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn; là phong cách nói đi đôi với làm, quyết liệt trong hành động; là cách phát huy trí tuệ tập thể, khơi dậy sức dân và kiên trì giải quyết công việc đến cùng. Đây cũng chính là những phẩm chất mà đội ngũ cán bộ hôm nay cần có để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước và thực hiện tốt yêu cầu: Khơi thông các nguồn lực, tháo gỡ những điểm nghẽn và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Muốn làm được điều đó cần một phương pháp lãnh đạo, quản lý và tổ chức công việc khoa học, phù hợp với thực tiễn. Chính ở điểm này, tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định giá trị như một nền tảng tư duy, giúp mỗi cấp ủy, mỗi cơ quan, mỗi cán bộ, đảng viên tìm được cách giải quyết đúng đối với những vấn đề mới đang đặt ra.

Tìm lời giải đúng trong từng hoàn cảnh

Một trong những giá trị lớn nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là không đưa ra những lời giải có sẵn cho mọi vấn đề phát triển của đất nước, mà hướng chúng ta tìm ra lời giải đúng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Đó là biết nghiên cứu trước khi quyết định, biết phát huy trí tuệ tập thể thay vì áp đặt chủ quan, biết lắng nghe thực tiễn để kịp thời điều chỉnh khi cách làm không còn phù hợp, biết khơi dậy sức dân và biến sức mạnh của nhân dân thành động lực phát triển. Những giá trị ấy càng có ý nghĩa khi đất nước đang yêu cầu xây dựng một nền quản trị hiện đại, kiến tạo phát triển và phục vụ nhân dân.

Tinh thần đó cũng được thể hiện rõ trong Chỉ thị 07 khi yêu cầu gắn việc học tập và thực hành theo Bác với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, các đột phá chiến lược và nhiệm vụ trọng tâm của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Điều này cho thấy việc học và thực hành theo Bác không nhằm bổ sung thêm một phần việc mới mà giúp nâng cao chất lượng thực hiện những nhiệm vụ đang đặt ra. Mỗi địa phương có điều kiện khác nhau thì cách phát huy tiềm năng cũng khác nhau; mỗi ngành có những khó khăn riêng thì cách tháo gỡ cũng không giống nhau. Điều quan trọng là phải biết vận dụng sáng tạo tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh để tìm ra lời giải phù hợp với thực tiễn của mình, thay vì trông chờ vào những mô hình hay công thức chung.

Thực tiễn phát triển của đất nước trong những năm qua cũng cho thấy, nhiều địa phương, cơ quan đã tạo được bước chuyển mạnh khi biết chủ động đổi mới cách nghĩ, cách làm, mạnh dạn tháo gỡ những rào cản, phát huy tiềm năng và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội. Những kết quả đó không chỉ xuất phát từ điều kiện thuận lợi mà còn từ cách tiếp cận đúng đối với thực tiễn, từ tinh thần chủ động tìm lời giải cho những việc khó, đúng với phương pháp làm việc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn. Ngược lại, nơi nào còn tư duy trông chờ, máy móc hoặc ngại thay đổi thì ở đó thường chậm nắm bắt cơ hội, hiệu quả công việc chưa cao và khó tạo được động lực phát triển.

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, điều cần học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là phẩm chất đạo đức hay phong cách gần dân mà còn là phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề và phương pháp tổ chức thực hiện. Khi mỗi cấp ủy, mỗi cơ quan và mỗi cán bộ biết lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của đất nước và nhân dân làm mục tiêu, lấy hiệu quả công việc làm thước đo thì tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ thực sự trở thành "chìa khóa giải quyết việc khó", góp phần khơi thông những điểm nghẽn, phát huy mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

(còn nữa)

Báo QĐND

Ảnh minh họa: baodautu.vn


11/08/2026

Tạo chuyển biến thực chất trong học tập và thực hành theo Bác - Bài 1: Học tập và thực hành theo Bác gắn chặt với nhiệm vụ chính trị

Tác giả: Nhóm phóng viên

LTS: Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13-7-2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" (Chỉ thị 07), xác định việc học tập và thực hành theo Bác là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Bám sát tinh thần Chỉ thị 07 và các chủ trương, quyết sách của Đảng, loạt bài "Tạo chuyển biến thực chất trong học tập và thực hành theo Bác" tập trung phân tích, làm rõ yêu cầu đưa việc học tập và thực hành theo Bác đi vào chiều sâu, trở thành động lực nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị.

Đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng thực thi nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị. Trong bối cảnh đó, Chỉ thị 07 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đưa việc học tập và thực hành theo Bác gắn chặt với nhiệm vụ chính trị, trở thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên.

Đòi hỏi của thực tiễn

Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ. Thực tiễn cho thấy, trong tình hình hiện nay, ở nhiều lĩnh vực, điều còn trăn trở không phải là thiếu chủ trương hay thiếu quyết tâm chính trị mà là có lúc, có nơi việc tổ chức thực hiện chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Một số nhiệm vụ triển khai còn chậm; có những điểm nghẽn chưa được tháo gỡ dứt điểm; có những vấn đề người dân, doanh nghiệp mong mỏi nhưng việc giải quyết chưa thật sự kịp thời. Những hạn chế ấy không chỉ liên quan đến cơ chế, chính sách mà còn phản ánh trách nhiệm, phương pháp làm việc và năng lực thực thi của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Chính từ yêu cầu đó, việc đẩy mạnh học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh là yêu cầu của sự nghiệp cách mạng hiện nay. Điều đất nước cần là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh phải được vận dụng vào từng quyết định, từng nhiệm vụ, từng hành động cụ thể; trở thành phương pháp làm việc, phương pháp lãnh đạo và phương pháp giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Đây cũng là lý do Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 07 với nhiều điểm nhấn, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Nhìn lại 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05) có thể khẳng định, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao nhận thức, rèn luyện phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tuy nhiên, quá trình tổng kết cũng chỉ ra những hạn chế cần khắc phục: Ở một số nơi, việc học và làm theo Bác còn biểu hiện hình thức; chưa gắn chặt với giải quyết những vấn đề thực tiễn...

Chính từ thực tiễn đó, Chỉ thị 07 không chỉ là sự tiếp nối Chỉ thị 05 mà còn thể hiện yêu cầu đổi mới cách tiếp cận. Điểm nổi bật của Chỉ thị không nằm ở sự thay đổi từ ngữ từ "làm theo" sang "thực hành", mà ở yêu cầu đưa việc học tập và thực hành theo Bác gắn chặt hơn với nhiệm vụ chính trị, với chất lượng thực thi công vụ và hiệu quả công việc. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về cách diễn đạt mà phản ánh yêu cầu của thực tiễn phát triển: Giá trị của việc học phải được kiểm chứng bằng kết quả, bằng những chuyển biến cụ thể trong công tác xây dựng Đảng, trong hoạt động của bộ máy và trong đời sống xã hội.

Điều cần nhấn mạnh là, "thực hành" không thay thế "làm theo" mà mở rộng nội hàm của "làm theo". Nếu "làm theo" chủ yếu nhấn mạnh việc noi gương, tu dưỡng và rèn luyện bản thân thì "thực hành" đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải biết vận dụng tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh vào giải quyết công việc hằng ngày; biến nhận thức thành hành động, biến phương pháp của Bác thành phương pháp công tác, biến phong cách của Bác thành chuẩn mực trong thực thi nhiệm vụ. Nói cách khác, "làm theo" thiên về sự rèn luyện của mỗi cá nhân, còn "thực hành" hướng tới hiệu quả hoạt động của cả tổ chức và hệ thống chính trị. Đó cũng chính là thông điệp nổi bật mà Chỉ thị 07 đặt ra, tạo tiền đề để việc học tập và thực hành theo Bác đi vào chiều sâu, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên

Một trong những điểm nổi bật của Chỉ thị 07 là Bộ Chính trị xác định việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên.

Việc Bộ Chính trị nhấn mạnh nhiệm vụ "trọng yếu" và "thường xuyên" thể hiện cách tiếp cận rất rõ ràng đối với công tác xây dựng Đảng. "Trọng yếu" khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của việc học tập và thực hành theo Bác trong toàn bộ nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; còn "thường xuyên" nhấn mạnh đây là công việc phải được tiến hành liên tục, bền bỉ, gắn với từng nhiệm vụ, từng quyết định và từng hành động của mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên. Chỉ khi hai nhiệm vụ ấy được thực hiện đồng thời, việc học tập và thực hành theo Bác mới tránh được tính hình thức, tạo nên những chuyển biến thực chất; mới trở thành một bộ phận hữu cơ trong công tác lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện ở mọi cấp.

Điều đó cũng có nghĩa, học và thực hành theo Bác chính là cách để nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Đối với mỗi cấp ủy, việc học và thực hành theo Bác phải được cụ thể hóa bằng những chương trình, kế hoạch gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; lấy kết quả giải quyết công việc, hiệu quả phục vụ nhân dân và sự chuyển biến trong xây dựng Đảng làm thước đo. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, việc học tập và thực hành theo Bác phải được thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tác phong làm việc khoa học, ý thức phục vụ nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung và không ngừng tự rèn luyện để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Điểm đáng chú ý là Chỉ thị 07 không chỉ đặt trách nhiệm đối với từng cá nhân mà còn yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị phải tạo môi trường để việc học tập và thực hành theo Bác trở thành nền nếp trong lãnh đạo, quản lý và thực thi công vụ.

Việc xác định học tập và thực hành theo Bác là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên không chỉ nhằm duy trì nền nếp học tập, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là tạo chuyển biến thực chất trong xây dựng Đảng và hoạt động của cả hệ thống chính trị. Khi việc học tập và thực hành theo Bác trở thành yêu cầu tự giác trong mỗi tổ chức và mỗi cán bộ, đảng viên; khi tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh được chuyển hóa thành phương pháp lãnh đạo, phương pháp công tác và chuẩn mực trong thực thi nhiệm vụ hằng ngày, thì việc học tập và thực hành theo Bác sẽ trở thành động lực nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

(còn nữa)

Báo QĐND


Address

Thái Nguyên

Telephone

+84984805723

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội Cựu Chiến binh xã Vạn Phú, tỉnh Thái Nguyên posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Hội Cựu Chiến binh xã Vạn Phú, tỉnh Thái Nguyên:

Shortcuts

Share